CHIA SẺ

Khi chúng ta biết cách dập tắt ngọn lửa   nhiễm   ô,   tiêu   diệt   thói   xấu, nghĩa là chúng ta đã có dụng cụ cần thiết. Chúng ta có thể tự tin – không còn nghi ngờ gì, không lạc lối trong các  đường  thực tập  khác  nhau,  bởi vì  chúng  ta  thấy  rõ  một  cách  chắn chắn  phải  thực  tập  cách  nầy,  luôn luôn  suy  ngẫm  về  sự  mâu  thuẫn, căng thẳng, và vô ngã, thật sự muốn giải thoát khỏi các nhiễm ô.

Có rất nhiều người xấu hổ khi nói về những  tánh  xấu  của  họ,  nhưng  họ  lại chẳng  xấu  hổ  gì  khi  nói  về  tánh  xấu của những người khác. Có rất ít người sẵn sàng báo cáo về bệnh tình của họ – sự nhiễm ô của họ — một cách thẳng thắn. Kết quả, thói xấu được bưng bít, và giữ bí mật, để chúng ta không biết rằng  thói  xấu  ấy  nguy  hiểm  và  sẽ  có cơ hội lan  nhanh  như thế nào.  Tất cả chúng  ta  đều  khổ  sở  về  nó,  nhưng không  ai  chịu  cởi  mở  về  điều  nầy. Không  một  ai  cảm  thấy  thích  thú  khi phải  chẩn  đoán  thói  xấu  của  chính mình…

Chúng ta phải tìm một cách khéo léo để  có  thể  tiêu  diệt  thói  xấu  nầy,  và chúng  ta  có  thể  cởi  mở  về  việc  nầy, công nhận tật xấu của chúng ta từ thô thiển  đến  tinh  tế,  mổ  xẻ  chúng  thành từng phần nhỏ nhặt nhất. Chỉ như vậy, chúng  ta  mới  thành  công  phần  nào trong  sự  thực  tập  của  chúng  ta.  Nếu chúng ta nhìn lại chính mình một cách hời hợt, chúng ta sẽ cho rằng chúng ta như vậy là tốt lắm rồi, biết vậy là đủ rồi.  Nhưng  mà  khi  tật  xấu  không  bị kềm chế nó có thể biến thành một căn bệnh  ngầm,  rất  là  khó  chẩn  đoán,  và khó trị ….

Chúng ta phải mạnh mẽ để chiến đấu với tất cả những thói xấu, ham muốn, si mê. Chúng ta phải thử sức mạnh của mình, bằng cách chiến đấu với nhiễm ô  và  khắc  phục  những  thói  xấu  nầy. Một  khi  chúng  ta  có  thể  hàng  phục được các thói xấu rồi, chúng ta có thể cưỡi  lên  lưng  chúng.  Nếu  không,  các thói xấu sẽ cưỡi lên lưng chúng ta, bắt chúng  ta  phải  làm  việc  theo  ý  của chúng,  xỏ  mũi  chúng  ta,  và  làm  cho chúng ta ham muốn, làm cho chúng ta mệt mỏi bằng đủ mọi cách.

Thế chúng ta có phải là thân trâu ngựa không  ?  Chúng  ta  là  thân  trâu  ngựa bởi  vì  thói  xấu  và  ham  muốn  đang cưỡi trên lưng chúng ta ? Có phải thói xấu và ham muốn đã xỏ mũi chúng ta ? Khi mà anh thấy rằng đã quá đủ, anh phải  dừng  lại  –  hãy  dừng  lại  và  theo dõi các thói xấu để thấy chúng từ đâu đến,  chúng  muốn  gì,  chúng  ăn  gì,  và chúng  thích  gì.  Hãy  xem  đây  là  một môn thể thao anh yêu thích – theo dõi các  thói  xấu  và  bỏ  đói  chúng,  giống như   một   người   từ   bỏ   thứ   mà   họ nghiện…. Để xem các thói xấu có bực mình   khi   không   được   chìu   ý   hay không. Xem chúng có đói khát đến độ chảy  nước  dãi  hay  không  ?  Kế  tiếp, không cho chúng ăn. Bằng bất cứ giá nào, không để chúng ăn bất cứ thứ gì mà chúng say mê. Xét cho cùng, còn có  những  thứ  khác  để  ăn.  Chúng  ta phải kiên quyết đối với các thói hư tật xấu  –  nghiêm  khắc  với  chính  «  bản ngã » của chúng ta – thí dụ …. « Đói à ? Cứ tự nhiên đói đi ! Muốn chết ? Tốt thôi  !  Cứ  tự  nhiên  chết  !  »  Nếu  anh thực  hành  với  thái  độ  nầy,  anh  sẽ thắng tất cả những thú đam mê, nghiện ngập – bởi vì anh đã không thoả mãn những  ham  muốn  đó,  anh  không  tiếp tục  nuôi  dưỡng  cái  ham  muốn  ấy  chỉ để tìm chút hương vị vật chất. Đã đến lúc anh phải ngừng lại, đã đến lúc anh phải  từ  bỏ  không  nuôi  dưỡng  những ham muốn nầy. Nếu chúng đói khát và chết đi, thì cứ để cho chúng chết. Xét cho  cùng,  tại  sao  anh  lại  phải  nuôi dưỡng  các  tật  xấu,  tại  sao  phải  cho chúng ăn no, nuôi chúng mập mạp ?

Bằng bất cứ giá nào, anh phải để sức nóng lên trên các ham muốn và tật xấu cho  đến  khi  chúng  khô  héo,  và  hao mòn.  Đừng  để  chúng  ngóc  đầu  dậy. Hãy kềm giữ chúng dưới tay anh. Đây là cách thực tập không rắc rối mà anh nên noi theo. Nếu anh kiên định, nếu anh  chiến  đấu  kiên  trì  cho  đến  khi chúng  bị  đốt  cháy,  thì  không  có  một chiến  thắng  nào  có  thể  so  sánh  với chiến  thắng  nầy,  không  có  một  chiến thắng  nào  oai  hùng  bằng  chiến  thắng những  ham  muốn,  tật  xấu  trong  tâm anh.

Vì thế đức Phật đã dạy trong tất cả các sinh  hoạt  của  chúng  ta  –  đi,  đứng, ngồi, nằm, chúng ta phải để sức nóng thiêu huỷ các tật xấu ấy. Nếu chúng ta không  làm  thế,  chúng  sẽ  thiêu  huỷ chúng ta trong sinh hoạt hàng ngày….

Nếu  anh  suy  nghĩ  kỹ,  anh  sẽ  thấy những lời dạy của đức Phật hoàn toàn đúng, ngài bảo chúng ta phải quan sát các  thói  hư,  tật  xấu  và  cho  chúng  ta biết  làm  thế  nào  để  buông  bỏ,  tiêu diệt, và diệt thói xấu. Tất cả bước chỉ dẫn đều có sẵn, vì thế chúng ta không cần  phải  tìm  nơi  khác  để  học.  Mỗi điểm trong kinh điển và đệ tử của ngài đã chỉ dẫn cho chúng ta con đường, vì thế  chúng  ta  không  cần  lo  lắng,  chỉ cần theo lời chỉ dẫn để quan sát và dẹp bỏ những bệnh tật nầy. Thông thường người  ta  không  thích  nói  về  tật  xấu của  chính  mình,  và  như  vậy  họ  hoàn toàn sống trong sự si mê. Họ sống già và chết đi mà không biết chút gì về tật xấu của chính mình.

Khi chúng ta bắt đầu thực tập, chúng ta sẽ hiểu vì sao các thói xấu đốt cháy tim  chúng  ta,  khi  chúng  ta  dần  hiểu được chính bản thân chúng ta. Để hiểu được sự đau khổ và sự nhiễm ô, chúng ta học phương cách dập tắt lửa nhiễm ô, để chúng ta có một không gian thoải mái hơn…

Khi  chúng  ta  biết  cách  dập  tắt  ngọn lửa nhiễm ô, tiêu diệt thói xấu, nghĩa là  chúng  ta  đã  có  dụng  cụ  cần  thiết. Chúng  ta  có  thể  tự  tin  –  không  còn nghi  ngờ  gì,  không  lạc  lối  trong  các đường   thực   tập   khác   nhau,   bởi   vì chúng  ta  thấy  rõ  một  cách  chắn  chắn phải thực tập cách nầy, luôn luôn suy ngẫm về sự mâu thuẫn, căng thẳng, và vô  ngã,  thật  sự  muốn  giải  thoát  khỏi các nhiễm ô.

Đức hạnh, sự tập trung tư tưởng, và sự sáng suốt là dụng cụ của chúng ta — và chúng ta cần nguyên một bộ. Chúng ta cần  sự  sáng  suốt  với  Chính  Kiến,  và đức  hạnh  với  kỷ  luật  cá  nhân.  Đức hạnh rất là quan trọng. Đức hạnh và sự sáng suốt giống như đôi cánh tay phải, trái của chúng ta. Nếu một tay dơ, thì nó  không  thể  tự  rửa  sạch.  Chúng  ta cần  cả  hai  tay  để  rửa  tay  và  giữ  tay sạch sẽ. Như vậy, ở đâu có đức hạnh, ở đó có sự sáng suốt. Ở đâu có sự sáng suốt, ở đó có đức hạnh. Sự sáng suốt giúp cho anh hiểu rõ ; đức hạnh giúp cho  anh  buông  bỏ,  tiêu  diệt  các  sự nghiện   ngập.   Anh   hiểu   đức   hạnh không chỉ là ngũ giới hay bát giới. Nó bao gồm những chi tiết rất tinh tế. Khi anh  nhận  thấy  nguyên  nhân  của  đau khổ   một   cách   sáng   suốt,   anh   phải ngừng lại, và anh phải buông bỏ.

Đức  hạnh  rất  tinh  tế  và  chính  xác. Buông  xả,  từ  bỏ,  tiết  chế,  cắt  bớt,  và tiêu  diệt  :  Tất cả  mọi  thứ  nầy  là việc của đức hạnh. Và như vậy đức hạnh và nhận  thức  sáng  suốt  luôn  đi  đôi  với nhau, giống như hai cánh tay phải, trái luôn giúp đỡ lẫn nhau. Chúng giúp đỡ nhau để rửa sạch cấu uế. Khi ấy, tâm thức của anh có thể trở nên tập trung, sáng ngời  và  trong  sạch.  Chỉ nơi tâm thức mới nhận thấy những lợi ích của các đức tính nầy. Nếu chúng ta không có  những  dụng  cụ  nầy,  cũng  giống như  chúng  ta  không  có  chân  tay  :

Chúng ta không thể đi đâu hết. Chúng ta cần phải sử dụng những dụng cụ mà chúng ta có – đức hạnh và nhận thức sáng suốt – để tiêu diệt nhiễm ô. Khi ấy,  tâm  thức  của  chúng  ta  mới  được nhiều lợi ích…

Vì lý do đó, đức Phật đã dạy chúng ta phải thường xuyên trau dồi đức hạnh, sự  tập  trung  tư  tưởng,  và  nhận  thức sáng  suốt.  Chúng  ta  cần  phải  mạnh khỏe để trau dồi những phẩm chất nầy. Nếu chúng ta không tiếp tục trau dồi, dụng  cụ  dập  tắt  đau  khổ  và  tiêu  diệt nhiễm  ô  sẽ  không  được  bén  nhạy,  và sẽ khó  xử dụng  khi cần  dùng.  Chúng sẽ không phải là đối thủ của nhiễm ô.

Nhiễm ô có những năng lực quái dị để đốt cháy tâm thức chỉ trong nháy mắt. Nếu nói tâm thức là yên tịnh và trung tính  :  Sự  va  chạm  nhẹ  nhất  của  cảm giác  cũng  có  thể  đốt  cháy  mọi  thứ trong  tích  tắc,  làm  cho  chúng  ta  cảm thấy hài lòng hoặc bực mình. Tại sao ?

Sự tiếp xúc của cảm giác là thước đo cho  thấy  chánh  niệm  của  chúng  ta cứng rắn hay mềm yếu. Thông thường tâm thức của chúng ta dễ bị dao động mạnh mẽ. Một khi có sự va chạm bằng tai hay mắt, nhiễm ô rất nhanh nhẹn để phản ứng. Khi xảy ra trường hợp nầy, chúng ta có thể làm gì để có thể kềm chế lấy chúng ? Làm thế nào để chúng ta  có  thể  kềm  chế  lấy  đôi  mắt  của chúng ta ? Làm thế nào để chúng ta có thể  kềm  chế  lấy  đôi  tay,  mũi,  lưỡi, thân và tâm ? Làm thế nào để chúng ta có thể để cho chánh niệm và nhận thức sáng  suốt  kềm  chế  những  thứ  nầy  ?

Đây  là  vấn  đề  của  sự  thực  tập,  việc của chúng ta …. trong sáng và giản dị, một thứ mà chúng ta có thể thử thách chính mình,  để  thấy  rõ tại  sao khi  có sự va chạm của giác quan xuất hiện thì các nhiễm ô toé lửa nhanh chóng quá.

Thí  dụ,  cho  rằng  chúng  ta  nghe  một người   phê   bình   một   người   khác. Chúng   ta   nghe   và   không   bực   bội. Nhưng nếu như một ý nghĩ thoáng qua đầu, « Cô ta thật ra đang phê bình tôi». Một khi chúng ta gợi lên cái « tôi », tức  thời  chúng  ta  nổi  giận  và  bực mình. Nếu chúng ta pha chế thêm chút xíu nữa về cái « tôi » nầy, chúng ta có thể  rất  là  bực  tức.  Chỉ  điểm  nầy  thôi cũng đủ cho chúng ta quan sát là một khi có cái « ngã » tham dự vào, chúng ta  tức  thời  đau  khổ.  Nó  luôn  xảy  ra như vậy. Nếu không có ý niệm về cái ngã tham dự vào việc nào đó, chúng ta có  thể  rất  bình  tỉnh  và  thờ  ơ.  Khi người  ta  phê  bình  những  người khác, chúng  ta  có  thể  không  quan  tâm  ; nhưng  một  khi  chúng  ta  cho  rằng  họ đang phê bình chúng ta, tức thời cái « ngã  »  của  chúng  ta  xuất  hiện  và  bắt đầu dính líu vào việc ấy – và chúng ta tức thời bị đốt cháy cùng với nhiễm ô. Tại sao ?

Anh  phải  để  ý  về  điểm  nầy.  Một  khi cái « tôi » của anh xuất hiện, đau khổ sẽ hiện hữu ngay liền lúc ấy. Điều nầy cũng xảy ra khi anh chỉ cần nghĩ về « cái  tôi  »  .  Bản  «  ngã  »  mà  anh  nghĩ đến, nó sẽ lan tràn với đủ loại vấn đề.

Tâm thức bị phân tán các nơi vì nhiễm ô, vì ham muốn, và tham đắm. Không có chính niệm hay nhận thức sáng suốt để trông coi tâm thức, và như vậy tâm thức  bị  lôi  kéo  theo  chiều  hướng  của nhiễm ô và ham muốn.

Nhưng mà chúng ta không biết. Chúng ta nghĩ rằng chúng ta tốt lắm rồi. Có ai trong  chúng  ta  thấy  rõ  điều  gì  đang xảy  ra  hay  không  ?  Chúng  ta  ai  ai cũng nặng trĩu với những ảo giác của chính mình. Không cần thiết tâm thức bị bít kín bao nhiêu trong nhiễm ô, si mê,  chúng  ta  hoàn  toàn  không  hay biết,  vì  chúng  ta  đã  bị  nhiễm  ô  làm cho mù, điếc….

Không có dụng cụ vật chất nào anh có thể  sử  dụng  để  khám  phá  và  trị  liệu căn bệnh  nhiễm ô,  bởi vì nó chỉ xuất hiện khi có sự va chạm của giác quan.

Nó không có thực thể. Giống như một que diêm trong hộp quẹt. Một khi que diêm không đụng đến miếng ma-xát ở bên  hông  hộp  quẹt,  nó  sẽ không  phát ra  lửa.  Nhưng  mà  khi  chúng  ta  dùng que diêm quẹt ngang miếng ma-xát ấy, tức thời lửa loé lên. Nếu que diêm bị tắt, chỉ là đầu que diêm bị cháy. Nếu đầu  que  diêm  không  cháy,  thì  cả  que diêm  sẽ  bị  cháy.  Nếu  như  que  diêm cháy hết rồi, mà lửa không tắt và gặp bất cứ vật gì bắt lửa, thì nó có thể tạo nên một ngọn lửa lớn.

Khi nhiễm ô xuất hiện ở tâm thức, nó bắt đầu với sự va chạm nhẹ nhất. Nếu chúng  ta  nhanh  nhẹn  dập  tắt  nó  liền, giống như một que diêm vừa bật cháy – phù – thổi một cái, ngay lúc ấy, vào đầu que diêm. Nhiễm ô giải tán ngay lúc nầy. Nếu như chúng ta không dập tắt kịp, thì nó sẽ pha chế ra vấn đề, và rồi chẳng khác nào như xăng đổ thêm vào ngọn lửa.

Chúng  ta  phải  quan  sát  các  căn  bệnh của nhiễm ô trong tâm thức chúng ta, để  thấy  rõ  triệu  chứng  của  chúng,  và hiểu tại  sao  chúng  toé lửa  nhanh  như thế. Chúng không chịu nổi khi bị làm rộn. Giây phút mà anh làm rộn chúng, chúng  sẽ  toé  lửa  ngay.  Trong  trường hợp nầy, chúng ta phải làm thế nào để sửa  soạn   trước  ?   Làm   thế   nào  để chúng  ta  trang  bị  đầy  đủ  chánh  niệm trước những va chạm của giác quan ?

Cách  thức  để  trang  bị  đầy  đủ  là  thực hành thiền định, khi chúng ta giữ hơi thở  trong  tâm  thức.  Đây  là  cách  giúp chúng ta luôn giữ lấy chánh niệm, để sẵn sàng đối phó với nhiễm ô, và như vậy  chúng  ta  có  thể  hàng  phục  được nhiễm ô trước khi chúng xuất hiện, chỉ cần  chúng  ta  luôn  ghi  nhớ  đề  mục thiền quán trong tâm thức nội tại.

Căn  nhà  của  tâm  thức  là  thân  thể, được  cấu  tạo  bằng  những  yếu  tố  vật chất,  nhưng  bên  trong  căn  nhà  ấy  có chủ  đề  của  thiền  định,  mà  chúng  ta luyện tập để tập trung tư tưởng và gìn giữ  chính  niệm.  Bất  cứ  chủ  đề  nào chúng ta sử dụng, căn nhà nội tại của tâm thức luôn đi lang thang, luôn pha chế những ý nghĩ và tưởng tượng. Do đó  chúng  ta  cần  một  chủ  đề  để  thiền định.  Đừng  để  tâm  thức  ta  chạy  theo những ưu tư thường lệ của người đời không  biết  thiền  định  là  gì.  Một  khi chúng ta có chủ đề cho việc thiền định thì  việc   bắt  con  khỉ  tâm  thức  bớt ngoan  cố  sẽ  dần  dà  có  kết  quả,  và ngày lại ngày, con khỉ tâm thức sẽ từ từ  bình  tĩnh,  yên  tịnh  cho  đến  khi  nó có thể đứng yên vững vàng trong một thời gian dài hay ngắn hạn, tuỳ thuộc vào sự luyện tập và chú tâm của chúng ta.

Bây giờ, làm thế nào để chúng ta thực hành  thiền  về  hơi  thở  :  Sách  vở  nói rằng hít vào thở ra một hơi  dài  – hơi thở sâu hoặc ngắn — và rồi hít vào thở ra một hơi ngắn – dài hoặc sâu. Đấy là những bước thực tập đầu tiên. Sau đó, chúng ta không còn chú ý vào hơi thở dài,  ngắn  hay  sâu  nữa.  Thay  vào  đó, chúng  ta  chỉ  việc  chú  tâm  vào  một điểm của hơi thở và tiếp tục giữ chính niệm cho đến khi tâm thức lắng xuống và yên tịnh. Khi tâm thức đã yên tịnh rồi,  kế  đó anh  có  thể  chú  tâm vào  sự yên tịnh của tâm thức và đồng thời có chính niệm rõ ràng về hơi thở.

Ở  điểm  nầy,  anh  không  chú  tâm  trực tiếp vào hơi thở. Anh chú tâm vào tâm thức yên tịnh và bình thường. Anh tiếp tục chú tâm vào trạng thái bình thường của   tâm   thức,   đồng   thời   cũng   giữ chánh niệm về hơi thở đang ra vào, dù không  có  sự chú  tâm  đặc  biệt nào  về hơi  thở.  Anh  chỉ  dừng  lại  nơi  tâm thức,  nhưng  anh  trông  chừng  nó  với mỗi hơi thở ra vào. Thông thường khi anh  làm  việc  bằng  tay  chân  và  tâm thức  ở  trạng  thái  thường,  anh  có  thể biết anh đang làm gì, vậy tại sao anh không có chính niệm đối với hơi thở ? Xét cho cùng, hơi thở là một phần của thân thể mà.

Trong số các anh, có vài vị thấy việc nầy thật mới lạ, bởi thế họ không biết làm sao để chú tâm vào tâm thức trong trạng  thái  thường  với  mỗi  hơi  thở  ra vào, mà không cần có sự chú tâm trực tiếp về hơi thở. Cái mà chúng ta đang thực  hành  ở  đây  là  luyện  tập  để  giữ chính  niệm  bên  trong  cũng  như  bên ngoài, của thân và tâm — đơn giản và thanh tịnh.

Hãy  bắt  đầu  bằng  cách  chú  tâm  vào hơi thở từ 5, 10, hoặc 20 phút. Hít vào thật  sâu,  và  thở  ra  thật  sâu,  hoặc  hít vào  thở  ra  một  hơi  ngắn.  Cùng  lúc, hãy để ý những giai đoạn mà tâm thức cảm nhận được, tâm thức như thế nào khi nó bắt đầu lắng dịu xuống, khi anh có  chính  niệm  về  hơi  thở.  Anh  cần phải theo dõi điểm nầy cho kỹ, bởi vì thông  thường  anh  chỉ  thở  theo  thói quen, không có chút chú tâm nào. Anh không  chú  tâm  vào  hơi  thở  ;  anh không biết là hơi thở có mặt. Điều nầy làm cho anh cảm thấy chú tâm vào hơi thở  thật  là  một  việc  làm  khó  khăn, nhưng  thật  ra  nó  rất  là  đơn  giản.  Rốt cuộc, hơi thở ra vào theo tính cách tự nhiên  của  nó.  Không  có  gì  khó  khăn về hít thở. Hít thở không giống những đề tài thiền định khác. Thí dụ, nếu như anh  thực  tập  bằng  cách  nhớ  về  đức Phật,  hoặc  buddho,  anh  phải  luôn  lặp đi lặp lại buddho, buddho, buddho.

Quả  thật,  nếu  anh  muốn,  anh  có  thể lặp  đi  lặp  lại  buddho  trong  tâm  thức với mỗi hơi thở ra vào, nhưng đó chỉ là  những  giai  đoạn  đầu.  Anh  tiếp  tục lặp đi lặp lại buddho để cho tâm thức khỏi  chế  biến  những  ý  nghĩ  hoặc  ý tưởng gì khác. Chỉ đơn giản lặp đi lặp lại để  làm  yếu  dần  sự lang  thang của tâm thức, để tâm thức mỗi lần chỉ tập trung  vào  một  đề  tài.  Đó  là  việc  mà anh cần phải quan sát. Sự lặp đi lặp lại một câu chú, một câu niệm ngăn ngừa tâm  thức  khỏi  lang  thang  với  những suy nghĩ lộn xộn.

Sau khi luyện tập sự nhắc đi nhắc lại một  câu  niệm,  câu  chú  –anh  không cần phải đếm bao nhiêu lần, bao nhiêu câu  –  tâm thức  sẽ  lắng xuống  để  chú tâm vào mỗi hơi thở ra vào. Tâm thức sẽ  bắt  đầu  yên  tịnh,  trung  dung,  và bình thường.

Đây là lúc anh chú tâm vào tâm thức thay vì hơi thở. Hãy buông bỏ hơi thở và chú tâm vào tâm thức – nhưng bên cạnh vẫn biết rõ ràng về sự hiện diện của  hơi  thở.  Anh  không  cần  phải  ghi nhớ hơi thở dài hay ngắn. Chỉ cần ghi nhớ tâm thức ở trạng thái bình thường của  nó  với  mỗi  hơi  thở  ra  vào.  Hãy nhớ kỹ càng việc nầy để anh có thể áp dụng trong lúc thực hành thiền.

Tư  thế  :  Để  chú  tâm  vào  hơi  thở,  tư thế ngồi tốt hơn là đứng, đi, hoặc nằm, bởi vì với những tư thế khác, các cảm xúc  xuất  hiện  có  thể  áp  đảo  các  cảm xúc  về  hơi  thở.  Đi  thì  cơ  thể  lắc  lư nhiều quá, đứng lâu thì làm mệt mỏi, và  nếu  tâm  thức  lắng  dịu  xuống  khi anh nằm, thì anh sẽ buồn ngủ. Với tư thế ngồi, anh có thể giữ yên tư thế đó và giữ cho tâm thức vững vàng trong một thời gian lâu dài. Anh có thể quan sát  một  cách  tự  nhiên  những  tinh  tế của hơi thở và tâm thức.

Ở  đây,  tôi  muốn  tóm  tắt  lại  những bước của quán niệm hơi thở, để trình bày  làm  thế  nào  để  bộ  bốn  có  thể luyện tập cùng lúc như trong kinh đã nói qua. Nghĩa là, có thể nào chú tâm cùng  lúc  về  thân  thể,  cảm  giác,  tâm thức và Pháp trong mỗi lần ngồi thiền? Đây là một câu hỏi quan trọng cho tất cả  chúng  ta.  Nếu  muốn,  anh  có  thể thực hành chính xác theo những bước đã  trình  bày  trong  kinh  sách  để  phát triển mạnh những khả năng thiền định (jhana),  nhưng  mất  nhiều  thời  gian. Cách nầy không thích hợp cho những ai  lớn  tuổi  và  không  còn  nhiều  thời gian để thực tập.

Cái  mà  chúng  ta  cần  là  phương  thức để gom sự chú tâm lâu dài vào hơi thở, làm  cho  tâm  thức  trở  nên  vững  chãi, và rồi thẳng đó xem xét tất cả những hình  thành  đều  mau  thay  đổi,  dễ  bị căng thẳng, và vô ngã, như vậy chúng ta  có  thể  nhận  biết  sự  thật  của  tất  cả hình  thành  với  mỗi  hơi  thở  ra  vào. Nếu chúng ta có thể chú tâm về những điều nầy một cách liên tục, không gián đoạn, tâm thức sẽ trở nên vững chãi và khít  khao  để  anh  có  được  một  nhận thức rõ ràng giúp cho anh đạt được trí tuệ và nhận thức sáng suốt.

Kế đó, là một bảng chỉ dẫn súc tích về những  bước  trong  việc  thực  tập  quán niệm  hơi  thở….  Hãy  sử  dụng  bài  chỉ dẫn cho đến khi anh đạt được sự hiểu biết  nội  tại.  Chính  anh  cũng  cũng  sẽ tìm  thấy  sự  sáng  suốt  rốt  ráo  nơi  tự thân.

Việc  đầu  tiên  anh  làm  khi  bắt  đầu quán  niệm  hơi  thở  là  ngồi  thật  thẳng và  giữ  tâm  thức  vững  chãi.  Hít  vào. Thở ra. Hãy để hơi thở phóng khoáng và  thanh  thản.  Đừng  gồng  tay,  chân, hay thân thể. Hãy giữ thân thể trong tư thế thích hợp với hơi thở. Lúc đầu, hơi thở ra vào sẽ dài, sâu, và dần dà sẽ trở nên ngắn hơn – đôi lúc hơi thở sẽ sâu hoặc  nhẹ.  Khi  hơi  thở  ra  vào  ngắn chừng khoảng 10 hoặc 15 phút và rồi sẽ thay đổi.

Sau một lúc, khi anh chú tâm vào hơi thở,  hơi  thở  sẽ  dần  dà  thay  đổi.  Hãy tuỳ ý  thích  của  anh và  chú  tâm trong thời gian mấy phút vào hơi thở, kế đó nhận  biết  rõ  ràng  về  nguyên  hơi  thở ấy,  tất  cả  những  cảm  xúc  tinh  tế  của nó.  Đây  là  bước  thứ  ba,  bước  thứ  ba của  bộ  bốn  đầu  tiên  :  sabba-kaya- patisamvedi – chú tâm vào hơi thở có ảnh  hưởng  đến  thân  thể  bằng  cách quan  sát  các  cảm  xúc  của  hơi  thở trong những phần khác nhau của thân thể, nhất là những cảm giác liên quan đến hơi thở ra vào.

Từ đó, anh chú tâm vào cảm xúc của hơi  thở  ở  bất  cứ  điểm  nào.  Khi  anh thực  tập  một  cách  đúng  đắn  trong vòng một thời gian khá dài, thân thể — hơi  thở  —  bắt  đầu  trở  nên  yên  tịnh. Tâm  thức  dần  dà  yên  bình.  Nghĩa  là, hơi thở và chánh niệm về hơi thở phát triển cùng lúc. Khi các tinh tế của hơi thở  trở  nên  yên  tịnh  đồng  thời  chính niệm  cũng  lắng  dịu,  hơi  thở  trở  nên yên bình. Tất cả các cảm xúc của thân thể sẽ bắt đầu dần dần yên tịnh. Đây là bước thứ tư, sự yên tịnh của các hình thành thuộc về thân thể.

Đến  lúc  nầy,  anh  bắt  đầu  có  chính niệm về  các cảm giác xuất hiện  cùng với  thân  tâm  yên  tịnh.  Bất  cứ  là  các cảm xúc  ấy  dễ  chịu  hoặc  sung  sướng hoặc bất cứ như thế nào, các cảm xúc xuất  hiện  một  cách  rõ  ràng  cho  anh chiêm nghiệm.

Những giai đoạn anh phải vượt qua – quan sát hơi thở ra vào, dài hay ngắn – cũng  đủ  để  cho  anh  nhận  biết  –  mặc dù anh không thể chú tâm vào ý đó – hơi thở hay thay đổi. Nó tiếp tục thay đổi, từ hơi thở ra vào dài, hoặc hơi thở ra  vào  ngắn,  từ  hơi  thở  sâu  hay  nhẹ v..v…  Chừng  đây  cũng  đủ  giúp  cho anh  thấy  rõ  phần  nào  về  hơi  thở,  để hiểu là không có gì bất biến ở đây cả. Nó  tự  thay  đổi  từ  phút  giây  nầy  đến phút giây kế tiếp.

Một khi anh nhận biết sự hay thay đổi của thân thể — nghĩa là, với hơi thở — anh có thể nhận thấy các cảm xúc tinh tế, dễ chịu hay đau đớn nằm trong thế giới của cảm giác. Bây giờ, anh quan sát  các  cảm  giác,  ngay  đây,  lúc  nầy, anh đang chú tâm vào hơi thở. Cho dù đó là những cảm giác xuất hiện từ thân thể   và   tâm   thức   không   dao   động. Chúng vẫn thay đổi. Như vậy, những cảm  xúc  trong  thế  giới  của  cảm  giác biểu lộ sự thay đổi ngay chính nơi bản thân  chúng,  cũng  giống  như  hơi  thở vậy.

Khi anh nhận thấy sự thay đổi nơi thân thể, thay đổi nơi cảm giác, và thay đổi nơi tâm thức, cái đó gọi là thấy Pháp (seeing  the  Dhamma),  thí  dụ,  nhận biết  sự  thay  đổi.  Anh  cần  phải  hiểu điều nầy một cách đúng đắn. Thực tập bộ bốn đầu tiên của quán niệm hơi thở chứa  đựng  tất  cả  bốn  bộ  bốn  quán niệm hơi thở. Nghĩa là anh nhận thấy sự  thay   đổi   về   thân   thể   và   chiêm nghiệm về cảm giác. Anh nhận thấy sự thay  đổi  nơi  cảm  giác  và  rồi  chiêm nghiệm  về  tâm  thức.  Tâm  thức,  cũng vậy, hay thay đổi. Sự hay thay đổi của tâm thức là Pháp. Để nhận biết Pháp là nhận biết sự hay thay đổi.

Khi anh nhận biết tính chất thật sự của tất  cả  mọi  vật  hay  thay  đổi,  anh  hãy luôn luôn giữ sự hiểu biết về thay đổi, với mỗi hơi thở ra vào. Hãy luôn luôn ghi nhớ điều nầy trong tất cả sinh hoạt hàng ngày của anh và rồi xem việc gì sẽ xảy ra sau đó.

Sự bình tĩnh  thay thế  đam mê sẽ xảy ra.  Sự  buông  bỏ.  Đây  là  cái  mà  anh phải tự hiểu lấy.

Bài  súc  tích  về  quán  niệm  hơi  thở  là như vậy đó. Tôi gọi nó súc tích bởi vì nó  chứa  đựng  tất  cả  các  bước  trong cùng một bài thực tập. Anh không cần phải  thực  tập  mỗi  lần  một  bước.  Chỉ cần  chú  tâm  vào  một  điểm,  thân  thể, và  anh  sẽ  nhận  thấy  sự  thay  đổi  của thân  thể.  Khi  anh  nhận  thấy  sự  thay đổi  của  thân,  anh  sẽ  nhận  biết  cảm giác. Cảm giác cũng sẽ biểu lộ sự thay đổi. Sự nhạy cảm của tâm thức đối với cảm giác, hoặc những suy nghĩ, tưởng tượng,  cũng  đều  hay  thay  đổi.  Tất  cả mọi thứ tiếp tục thay đổi. Nhờ vậy anh sẽ hiểu thế nào là sự đổi thay …

Nếu anh có thể trở nên tinh xảo trong việc  quan  sát  và  hiểu  bằng  cách  nầy, anh  sẽ  ngạc  nhiên  với  sự  thay  đổi, căng thẳng, và vô ngã của cái mà anh cho là « cái tôi » , và anh sẽ giáp mặt với   bài   Pháp   chân   thật   (genuine Dhamma). Pháp cũng liên tục thay đổi như  ngọn  lửa  đang  cháy  –  cháy  với thay đổi, căng thẳng, và vô ngã – Pháp của sự vô thường của các hình thành. Xa  hơn,  trong  tâm  thức  hoặc  trong  ý thức, có một cái gì đó đặc biệt, xa hơn bất  cứ  loại  lửa  nào.  Ở  đó,  không  có đau khổ hay căng thẳng hoặc bất cứ gì khác. Vật nầy nằm « bên trong » : Anh có  thể  nói  nó  nằm  trong  tâm  thức, nhưng  nó  không  phải  nằm  bên  trong tâm thức.  Chỉ là với tâm thức ta cảm nhận  được  nó.  Anh  không  thể  trình bày nó bằng bất cứ phương thức nào. Chỉ là sự dập tắt của tất cả nhiễm ô, sẽ giúp anh nhận biết được nó.

Cái « vật đặc biệt » tự nó đã hiện hữu trong tính chất tự nhiên của nó, nhưng các nhiễm ô bao bọc chung quanh nó.

Tất cả những vật giả mạo – nhiễm ô – cản  trở  và  nắm giữ  mọi  thứ,  làm  cho tính chất đặc biệt nầy luôn bị che đậy và  cầm  giữ  lại  bên  trong.  Quả  thật, không có gì trong khung thời gian có thể so sánh với nó. Anh không thể đặt tên cho nó, nhưng anh phải đâm thủng màn nhiễm ô để thấy nó – thí dụ, phải đâm thủng tâm thức đầy nhiễm ô, ham muốn, bám víu để thấy rằng tâm thức thật trong sạch, sáng suốt, và yên tịnh. Chỉ có việc nầy là quan trọng nhất.

Nhưng nó không phải chỉ có một mức độ.  Có  rất  nhiều  mức  độ,  từ  vỏ  bên ngoài  đến  vỏ  bên  trong,  và  từ  nhựa cây  trước  khi  anh  đụng  đến  ruột  cây.

Pháp  chân  thật  giống  như  ruột  cây, nhưng còn có nhiều thứ nơi tâm thức không phải là ruột cây : Rễ cây, cành cây và rất nhiều lá cây, nhưng chỉ có một ít ruột cây. Tất cả mọi phần không phải ruột cây sẽ dần dà hư hoại và tan rã, nhưng ruột cây thì không hư. Đây là  một  cách  mà  chúng  ta  có  thể  so sánh. Giống như một cái cây chết chưa ngã. Các lá cây đã rụng, các cành cây đã  mục,  vỏ  và  nhực  cây  đã  hư  hết, chẳng  còn  gì  ngoài  trừ  ruột  cây.  Một thí dụ chúng ta có thể so sánh vật nầy là  sự  bất  tử,  nơi  đây  không  có  sanh, không   có   tử,   không   có   thay   đổi. Chúng  ta  có  thể  gọi  đó  là  Niết  Bàn (Nibbana)  hoặc  Không  Duyên  Khởi (Unconditioned).   Cũng   giống   nhau thôi.

Bây  giờ  đây.  Việc  nầy  có  đáng  cho chúng  ta  bỏ  công  để  thực  tập  và  tự nhận biết hay không ?

Tác giả : Upasika Kee Nanayon 

Dịch  sang  Việt  ngữ  :  Mỹ  Thanh