CHIA SẺ

duc-phap-vuong-Gyalwang-drukpa-Xii

Tâm giác ngộ còn được gọi là Bồ Đề tâm (Bodhicitta). Trong tiếng Phạn, “citta” là tâm và “Bodhi” là giác ngộ. Bodhicitta có thể được dịch là tâm hiểu biết hoặc tâm chứa đầy hiểu biết. Giác ngộ là mức độ cuối cùng của hiểu biết. Nếu bạn hiểu những kiến thức lượm lặt đó đây, đó cũng là một loại giác ngộ, song không phải là dạng giác ngộ hoàn toàn. Hiểu biết trọn vẹn còn được gọi là giác ngộ. Ví dụ như chúng ta hiểu việc pha trà – và đó là một loại giác ngộ song rất nhỏ bé và thông thường. Nếu bạn hỏi liệu đây có phải là một sự giác ngộ hay chưa thì câu trả lời là “Có, đây là một sự giác ngộ”.

Hiểu biết toàn diện hoặc giác ngộ chắc chắn bao hàm hình thức của tình yêu thương và lòng bi mẫn

Bất cứ điều gì bạn hiểu biết đều là một dạng giác ngộ. Tuy nhiên, sự giác ngộ hoàn toàn hay giác ngộ chân thực chỉ có thể đạt được thông qua việc hiểu biết về bản chất của chính bạn – bản chất của chân lý vũ trụ nằm bên trong bản thân bạn. Trong bản thân bạn không nhất định có nghĩa là nằm bên trong hay bên ngoài con người – nó không chỉ vị trí địa lí – nhưng tựa như nó nằm bên trong. Tại sao chúng ta nói nó nằm bên trong? Vì nó là điều phải được phát triển trong tâm bạn. Hiểu biết toàn diện này hay còn gọi là giác ngộ chắc chắn tồn tại dưới hình thức tình yêu thương và lòng từ bi. Những phẩm chất này hiện hữu tự nhiên vì sau khi đã đạt đến toàn giác thì không có lý do gì những phẩm chất ấy không hiện hữu. Tình yêu thương và tâm từ bi vốn dĩ đi cùng với nhau như hơi ấm xuất hiện cùng ngọn lửa, và hơi ẩm đến cùng với nước. Chúng xuất hiện đồng thời. Do đó, tương tự như vậy, sự toàn giác tự xuất hiện sau khi ta đã đạt được hiểu biết hoàn toàn. Lúc ấy không thể không có tâm từ bi và tình yêu thương. Trên thực tế mà nói, tâm Bồ Đề phải được phát triển trong cuộc sống hàng ngày của bạn, thông qua việc rèn luyện tâm, với sự trí giúp của tâm bi mẫn và tình yêu thương. Có hai loại tâm Bồ Đề. Một loại được gọi là tâm Bồ Đề tương đối và loại nữa là tâm Bồ Đề tuyệt đối. Tâm Bồ Đề tuyệt đối là hiểu biết toàn vẹn về chân lý cứu kính. Bản thân chân lý cứu kính là tâm Bồ Đề tuyệt đối và đây là phẩm hạnh chúng ta có thể phát triển trong tư thân. Trong thực tế, có nhiều cách con người có thể phát triển tâm Bồ Đề tương đối. Có rất nhiều phương thức phát triển tâm từ bi. Những kinh điển linh thiêng và các bài giảng của nhiều bậc Thầy tôn quý chứa đựng vô vàn chỉ dẫn về việc phát triển tâm Bồ Đề. Song tôi muốn chia sẻ một chút kinh nghiệm của mình với các bạn. Tất cả chúng ta đều mong muốn có hạnh phúc và không muốn phải chịu phiền não khổ đau. Về khía cạnh này, chúng ta đều giống nhau, không chỉ riêng con người, mà tất cả chúng sinh trên thế giới này đều chung một mong nguyện đó – mong muốn hạnh phúc và không muốn chịu khổ đau. Mặc dù vậy, chúng ta lại không thực sự suy nghĩ hay hiểu biết về điều này. Có thể chúng ta biết về điều đó song chúng ta không thực sự quan tâm đến mong muốn mà mọi người đều có. Chúng ta chỉ quan tâm đến những gì chúng ta mong muốn và chúng ta có. Tôi cho rằng đây là lỗi lầm ban đầu mà chúng ta phạm phải trong cách suy nghĩ. Vào bất cứ thời khắc quan trọng nào, ví dụ như trong những xung đột, đánh lộn hoặc tranh luận, hoặc bất cứ mâu thuẫn nhỏ nào trong tư tưởng giữa hai người – giữa những lứa đôi, những người bạn hoặc những người hàng xóm – chúng ta đều phạm phải lỗi lầm này. Đây là điều chúng ta cần hiểu.

Việc thực hành đức tính nhẫn nhục là cánh cửa chính dẫn đến trưởng dưỡng Bồ Đề tâm hay còn gọi là tu tập giác ngộ

Trước tiên, bạn phải hiểu là mọi người đều mong muốn về điều này như nhau. Điều này chắc chắn sẽ làm cho bạn cảm thấy nhẹ nhàng hơn một chút. Tùy theo sự hiểu biết của bạn đối với vấn đề này nhiều đến mức nào, bạn sẽ có ít nhất một cơ hội để suy nghĩ và thỏa hiệp với mọi người hoặc chúng sinh hoặc bất cứ hoàn cảnh nào bạn đang phải đối mặt. Bạn sẽ có thể chấp nhận điều đó hoặc có thể bạn sẽ có khả năng tìm thấy hình thức thỏa hiệp. Toàn bộ câu chuyện có vẻ sẽ tốt hơn rất nhiều. Trong những hoàn cảnh như vậy, nếu bạn không cho chính mình một cơ hội để suy ngẫm và hiểu được mong cầu của mọi người, hoặc việc ai cũng có quyền mong muốn điều này, thì toàn bộ câu chuyện sẽ trở nên ngày càng tồi tệ hơn. Sẽ không có cơ hội để chấm dứt sự giận dữ và khi đó, sẽ không có việc thực hành lòng bi mẫn và tình yêu thương vì bạn không thể khoan dung độ lượng với những điều mọi người đang làm. Vì vậy, việc thực hành đức tính nhẫn nhục là cánh cửa chính dẫn đến việc tu tập Bồ Đề tâm, hay còn gọi là sự giác ngộ. Nếu bạn có thực hành điều đó – sự nhẫn nhục và lòng vị tha – thì bạn có thể có được nhiều thứ. Điều này dễ nói song không dễ dàng thực hiện nếu bạn không có đôi chút hiểu biết. Mọi chúng sinh đều có quyền khát khao mong muốn – “quyền” theo nghĩa mọi người đều được tự nhiên ban tặng quyền được khát khao hạnh phúc. Mọi người đều mơ ước và mong muốn có những điều tốt đẹp và hạnh phúc. Không ai muốn chịu khổ đau. Ai ai cũng mong muốn hạnh phúc như nhau. Vì vậy, bạn phải hiểu biết toàn diện về điều này để có đức tính nhẫn nhục và phát triển lòng vị tha; nếu không, trừ khi bạn là một người vĩ đại, bạn sẽ không bao giờ có thể có lòng vị tha, ngay cả khi bạn đố nộn mình không nổi giận. Bạn sẽ không thể kiềm chế được sự tức giận khi cơn giận đến.

Nếu chúng ta suy nghĩ kỹ về lối sống hàng ngày của chính thân, chúng ta sẽ thấy rằng mình luôn sống theo những gì chúng ta muốn và chúng ta không cho người khác cơ hội sống cuộc sống riêng của họ. Chúng ta thấy điều này rất khó khăn và không thể chấp nhận được. May mắn thay, nhiều người có thể hiểu ra điều đó, có lẽ song họ có thể thỏa hiệp và sau đó mọi việc diễn ra khá tốt đẹp. Điều này phù hợp với thời gian hiện tại. Song bất cứ khi nào mọi việc có đôi chút thăng trầm và theo cách nhìn của bạn, mọi người có hành vi sai trái thì bạn không thể chấp nhận điều đó vì nó không phù hợp với mong muốn và ước vọng của bạn. Do đó, bạn muốn mọi thứ, muốn cả thế giới phải được sắp đặt cho phù hợp với những mong muốn của mình, song bạn lại không muốn điều chỉnh cho phù hợp với cuộc sống của những người khác. Nếu một ai đó muốn cả thế giới phải điều chỉnh cho phù hợp với lối sống của mình, thì đó là điều rất vị kỷ và thể hiện sự yếu đuối thực sự trong bản thân hành giả. Đặc biệt, đây là trở ngại lớn để thực hành tình yêu thương và lòng bi mẫn – pháp tu tinh yếu của giáo pháp tâm linh.

Suy ngẫm, quán chiếu về cuộc sống của bạn là sự tu tập Đạo Phật căn bản và chân thực

Sự tu tập Đạo Phật phải được thực hiện thông qua suy ngẫm, quán chiếu: suy ngẫm, quán chiếu về cuộc sống hàng ngày của bạn. Bạn đã làm gì và thường hành động như thế nào trong cuộc sống? Bạn giải quyết những việc đang diễn ra trong cuộc sống của mình như thế nào và bạn sẽ làm gì nếu một điều nào đó xảy ra với bạn? Những câu hỏi và sự thiền quán tương tự như vậy chính là Phật pháp và tu tập Phật pháp. Đây là sự thực hành Đạo Phật chân chính. Điều này tạo ra sự phát triển tâm linh và đồng nghĩa với thiền quán về đời sống của bạn là phần thực hành chủ yếu. Nó có thể được thực hành dựa theo kinh nghiệm song nếu bạn chưa có được toàn bộ các kinh nghiệm – những kinh nghiệm rất sâu sắc và thâm thuý – thì cũng không sao – bạn có thể chỉ cần thực hành và suy ngẫm trong đầu. Khả năng suy ngẫm sâu sắc trong tâm lại là một vấn đề khác. Nếu bạn không thể đào sâu phần thực hành này trong tâm cũng không thành vấn đề. Chỉ cần suy nghĩ trong đầu thôi cũng đã rất hữu ích rồi. “Trong đầu” ở đây hàm chỉ khía cạnh tri thức và “sâu trong tâm” hàm chỉ khía cạnh kinh nghiệm. Nhiều Phật tử và thậm chí cả một số bậc Thầy Phật giáo cho rằng tri thức là điều vô nghĩa – tri thức không bao giờ hữu ích cả mà phải là kinh nghiệm. Tuy nhiên, tôi cho rằng tri thức cũng có thể rất hữu ích nếu bạn biết làm thế nào để kiểm soát tri thức đó. Làm thế nào để kiểm soát tri thức có nghĩa là làm thế nào để vận dụng tri thức một cách đơn giản trong cuộc sống hàng ngày chứ không để tri thức ấy kéo bạn rời xa khỏi tự tính chân thật của tâm. Chẳng hạn, nếu bạn gặp một người đang có vấn đề lớn về sức khỏe, ví dụ như bị đột qụy, ung thư, bệnh ngoài da, bệnh về mắt, hoặc bất cứ vấn đề nào về sức khỏe, thì thông thường, là những con người bình thường, khi chúng ta đi ngang qua những người đó, hầu hết chúng ta đều thậm chí không tìm hiểu xem điều gì đang xảy đến với họ. Chúng ta không quan tâm vì chúng ta thậm chí còn không nhìn đến họ. Đôi khi, chúng ta nhìn thấy họ nhưng chúng ta không quan tâm – hầu hết chúng ta đều không quan tâm. Một vài người trong số chúng ta, những người tự xưng là có chút lòng nhân hậu, sẽ nghĩ: “ôi, anh ta mới tội nghiệp làm sao!” Như vậy, bạn có thể cảm nhận một chút về lòng nhân hậu song chưa đủ. Trong pháp tu của Đạo Phật, khi bạn đi ngang qua và chứng kiến những người như vậy, bạn cần tiếp nhận điều đó như một bài pháp về lòng bi mẫn.

Bạn cần quán chiếu điều này và suy nghĩ về khả năng nếu một ngày kia bạn cũng gặp phải hoàn cảnh tương tự, bạn sẽ tiếp nhận chuyện đó như thế nào? Bạn sẽ có thể tồn tại như thế nào? Hãy tự đặt cho mình những câu hỏi như vậy và suy nghĩ xem nên chả lời như thế nào. Phương cách thực hành này vô cùng cần thiết và nó sẽ giúp bạn có sự hiểu biết đứng đắn; cho dù nếu bạn cũng rất vô minh, bạn sẽ hiểu rằng mình không thể tiếp nhận những hoàn cảnh đó một cách dễ dàng. Không ai có thể bảo vệ hay bảo đảm với bạn là điều này sẽ không bao giờ xảy ra. Không. Không một ai biết được. Ngày mai bạn có thể gặp hoàn cảnh tồi tệ hơn những gì con người khốn khổ trên phố đang trải qua – ai biết trước được tương lai? Trong trường hợp đó, bạn sẽ làm gì? Đó là câu hỏi cần được đặt ra. Đây chính là một bài pháp trọn vẹn – bạn không nhất thiết phải đến gặp một bậc Thầy mới nhận được lời giảng về cái gọi là Bồ Đề tâm. Con người khốn khổ trên phố có thể gián tiếp dạy bạn một bài pháp trọn vẹn về Bồ Đề tâm. Nhiều người, thậm chí một số Phật tử không có lòng nhân hậu và không được giảng dạy về lòng bi mẫn và tình yêu thương (hay nói cách khác, những người không có may mắn được tu tập lòng bi mẫn và tình yêu thương) thường nói: “ồ, đó là nghiệp, đó là nghiệp chướng của anh ta – đừng lo, đó là nghiệp chướng nặng nề mà anh ta đã tích lũy. Do đó, anh ta đáng phải trải qua thời gian tồi tệ, bệnh tật và tất cả mọi chuyện này. Song đừng lo lắng, anh ta phải tự chăm sóc cho bản thân. Nếu bạn lo lắng cũng không ích gì”. Họ sử dụng từ “nghiệp” rồi bỏ đi và thậm chí còn không nghĩ về điều đó. Tuy nhiên, là người Phật tử chân chính chúng ta không nên nghĩ theo cách này.

Cứu độ chúng sinh là thông điệp chính yếu của Đức Phật và của việc thực hành tâm linh, đây cũng là thông điệp chính của tất cả mọi tôn giáo

Đối với một hành giả tu tập tâm linh, đặc biệt là hành giả tu tập Bồ Đề tâm, thực hành Bồ Tát Đạo, chúng ta phải suy ngẫm tường tận về điều này. Như tôi đã nói ở phần trước, khi bạn thấy những con người hay những chúng sinh đang phải trải qua vô vàn những khó khăn chướng ngại, thì trước hết bạn cần phải thực sự suy nghĩ về nó. Như vậy, bạn sẽ phát triển được sự hiểu biết của mình. Thứ hai, chắc chắn bạn sẽ khai phát lòng bi mẫn và tình yêu thương một cách tự nhiên vô tác hướng tới những con người ấy. Thứ ba, bạn sẽ có thể giành thời gian để lợi ích chúng sinh. Đây là thông điệp cơ bản của Đức Phật và của việc thực hành tâm linh, cũng là thông điệp chính của mọi tôn giáo. Các tôn giáo khác cũng nói về việc có tâm từ bi và tình yêu thương. Họ nói rất nhiều về những điều này, song sau đó họ không đưa ra những lời khuyên thực tế về việc phải thực hành từ bi như thế nào. Do vậy, bằng việc thực hành này, mọi người sẽ có thể chuẩn bị cho bản thân sẵn sàng trước bất kỳ biến cố nào như chết chóc hay tai nạn có thể xảy ra ngay trong giờ phút tới – hay trong ngày mai, tháng tới hay năm tới. Chúng ta chuẩn bị sẵn sàng cho bất cứ điều gì có thể xảy ra; chúng ta có thể sẵn sàng đón nhận điều tồi tệ nhất và điều này sẽ đem lại sức mạnh; sức mạnh để đối mặt với bất kỳ khó khăn nào trong cuộc sống. Đây là lý do Bồ Đề tâm được gọi là “đại hộ pháp” hay “kim cương”. Cách gọi đó mang ý nghĩa đây là một pháp tu bất hoại hay một phương thuốc đối trị bất cứ căn bệnh nào của tâm và thân. Các chúng sinh đang khổ đau, họ không sẵn sàng vượt qua những khó khăn chướng ngại. Đó là do nghiệp; họ đã tích lũy tội nghiệp trong thời gian dài và bây giờ là lúc tội nghiệp chín muồi. Vì thế, họ đang phải chịu khổ đau mà không có lựa chọn nào khác, và thực sự chắc chắn 100% là họ không muốn trải qua những giai đoạn khủng khiếp đó, song họ không có lựa chọn nào khác. Đó nghĩa là bạn có thể không giúp đỡ được họ ngay lúc đó, ngay tại đó vì nghiệp chướng sâu dày của họ, song ít nhất chúng ta có thể giúp họ bằng cách suy ngẫm, quán chiếu về vô thường và nghiệp chướng liên quan đến họ. Điều này mang lại lợi ích trực tiếp cho sự tu tập của bạn, và một cách gián tiếp, bạn sẽ có thể chia sẻ lòng bi mẫn – tức là khai phát lòng bi mẫn và tình yêu thương – với người đang chịu khổ đau. Không phải chỉ có một người, mà là vô lượng chúng hữu tình trên khắp thế giới và trong khắp vũ trụ đang phải chịu khổ đau theo nhiều cách khác nhau. Bởi thế bạn có thể chia sẻ với họ. Bạn có thể đền đáp cho họ bằng cách chia sẻ tình yêu thương và hiểu biết chân thực. Họ sẽ trực tiếp mang lợi ích cho bạn bằng cách giúp bạn phát triển sự hiểu biết, khi đó một cách gián tiếp, bạn cũng có thể trí giúp cho họ rất nhiều, mặc dù có thể không ngay lập tức do nghiệp chướng sâu dày họ đang phải trải qua. Nhìn chung, tôi cho rằng chúng ta rất ngoan cố. Chúng ta không dễ thấm nhuần những bài pháp đang được tuyên thuyết một cách tự nhiên hai tư tiếng một ngày, ngay cả khi có những sự kiện lớn xảy ra trên thế giới xung quanh bạn như chiến tranh v.v… Mỗi buổi sáng, bạn có thể tự hỏi bao nhiêu động vật bị giết mổ để lấy thịt, trong khi bạn lại không chấp nhận tổn hại ngay cả một chút xíu ngón tay mình. Ngay cả những vết muỗi đốt cũng là một chuyện rất lớn đối với chúng ta. Ưu tiên hàng đầu là giết chết con muỗi, giết chết con chuột và giết bất cứ loài vật nào chúng ta không muốn có: tất cả chúng ta đều cùng chung xu hướng này.

Việc bạn muốn mọi chúng sinh khác phải phù hợp với cuộc sống của mình là không đúng đắn

Đây chính là điều mà lúc trước tôi đã nói – bạn không muốn hòa hợp với cuộc sống của những người khác. Bạn muốn mọi chúng sinh khác phải phù hợp với cuộc sống của mình. Như vậy là không đúng đắn. Bạn phải giết bất kỳ sinh linh nào không phù hợp với cuộc sống của bạn. Mọi thứ phải bị phá hủy. Bạn cũng phải loại bỏ những người bạn không ưa thích trong cuộc sống. Nếu vậy, làm thế nào bạn có thể trở thành một con người nhân hậu? Làm thế nào bạn có thể trở thành một con người hiểu biết? Nếu bạn không có lòng bi mẫn, bạn không thể được coi là một người tốt, ngay cả khi bạn là người có tài ăn nói, ngoại hình rất ưa nhìn, hay khi bạn có nhiều tiền và nhiều thứ để chia sẻ cho mọi người. Bạn không có cách nào để thực hành lòng từ bi. Chúng ta ngoan cố và rất ích kỷ. Chúng ta ích kỷ vì chúng ta không cho phép những chúng sinh khác có bất cứ quyền gì. Ví dụ như, nếu chúng ta muốn ăn thịt, chúng ta nuôi động vật và giết chúng chỉ để ăn thịt chúng, và chúng ta không đếm xỉa đến cảm giác và suy nghĩ của chúng. Chúng ta không cho chúng được quyền thể hiện cảm giác thực – như việc muốn được sống lâu giống như chúng ta vẫn mong muốn được trường sinh. Chúng cũng mong muốn sống hạnh phúc như chúng ta và mong muốn được tự do giống như chúng ta khao khát tự do. Loài súc sinh có những ước muốn giống như chúng ta song chúng ta không quan tâm đến những điều đó. Chúng ta muốn làm tất cả những gì chúng ta muốn – chúng ta muốn ăn thịt. “Mày sẽ bị xẻ thịt, thế thôi.” Chúng ta chỉ cần nói một tiếng và ngày hôm sau những động vật đó bị mang ra giết mổ. Chúng không được quyền lựa chọn nói “Không!” Trước tiên, các động vật khác không biết nói tiếng người. Thứ hai, chúng không thể trả lời nên sáng hôm sau chúng bị đem ra giết mổ. Không chỉ một hay hai chúng sinh, mà mỗi sáng có hàng nghìn, hàng triệu, hàng tỷ chúng sinh bị giết hại. Hàng tỷ tỷ động vật bị giết mổ để lấy thịt. Con người đang làm điều này. Như vậy đấy, chúng ta không cho động vật được hưởng quyền của chúng. “Chúng tao muốn ăn thịt mày nên sẽ giết mày.” – chỉ đơn giản vậy thôi. Không có câu hỏi hay sự lựa chọn nào khác, thế là chấm hết. Làm sao lại có thể như vậy? Nhiều động vật tội nghiệp sắp bị đem ra giết mổ chỉ biết trước vài phút hay vài tiếng đồng hồ. Chúng ý thức được điều đó và thậm chí còn rơi nước mắt; chúng vùng vẫy ra hiệu và thực sự đang tuyệt vọng tìm kiếm một con đường thoát thân song không làm được vì đang nằm trong một công-ten-nơ hay đang bị xích. Dù ở đâu, các động vật đó cũng không có lựa chọn. Và những người Phật tử nhẫn tâm nói: “ồ, đây là nghiệp chướng của chúng. Chúng phải trải qua kiếp nạn này. Nghiệp của chúng ta là ăn thịt chúng và thưởng thức, còn nghiệp của chúng là bị giết mổ. ”Nếu ngay cả những Phật tử cũng nói điều này, tôi sẽ gọi họ là những Phật tử nhẫn tâm, song họ không chỉ nhẫn tâm, họ hoàn toàn không phải là Phật tử. Như tôi đã đề cập ở phần trước, có thể chúng ta không giúp đỡ ngay được nhưng chúng ta nên xem đó là một bài pháp để suy ngẫm, quán chiếu. Chúng ta có thể dựa vào những cơ sở này để thực sự quán chiếu, suy ngẫm, và trưởng dưỡng lòng bi mẫn– tức là thông qua quán sát những gì đang diễn ra, đặc biệt là những điều tàn ác luôn đang diễn ra trên thế giới. Bạn không có nhiều lý do để đắc thắng hay ích kỷ và cũng không có nhiều lý do để vị kỷ vì bất cứ điều gì có thể xảy đến ngay tức khắc. Vì vậy, bạn sẽ tự động quy phục trước chân lý và thực hành chân lý – lòng bi mẫn, tình yêu thương và trí tuệ. Không chỉ có vậy, bạn chắc chắn sẽ trở thành một con người hoàn thiện hơn nhờ chính kiến này. Như thế, nhìn chung, mọi người có thể gọi bạn là một người rất hiểu biết. Qua đây tôi muốn nói đến người hiểu được hoàn cảnh xung quanh mình và có thể chấp nhận hoàn cảnh đó nhờ vào sự hiểu biết này. Bạn có thể chấp nhận hoàn cảnh một cách dễ dàng, êm dịu và nhẹ nhàng mà không nổi giận với những chuyện rất nhỏ hay gào thét, cao giọng hay quát nạt mọi người, nói một cách khác là không nổi sân.

Sân giận đơn thuần chỉ là một dấu hiệu của thiếu tu tập và quán chiếu

Người ta cho rằng nóng tính đôi khi có thể là do di truyền. Cha mẹ rất nóng tính thì con cái cũng sẽ như vậy. Tôi cho rằng điều này có thể đúng song thông thường, đó chỉ là một dấu hiệu của sự thiếu tu tập thực hành và không suy ngẫm, quán chiếu. Di truyền cũng có thể được thay đổi, do đó ngay cả khi bạn rất thô lỗ với mọi người hoặc rất nóng tính, bạn có thể ghìm cơn nóng giận để mọi chuyện trở nên nhẹ nhàng. Nhìn chung, không có gì trong vũ trụ này bạn không thể rèn luyện, thực hành hay thuần dưỡng. Một con người có thể được rèn rũa; ngay cả con chim, con rắn cũng có thể được huấn luyện. Bất cứ điều gì cũng đều có thể được thực hiện với bất cứ ai nhờ rèn luyện. Do đó, tất cả những gì bạn cần làm là làm quen với sự tu tập. Đây là cái được gọi là thiền định; chúng ta gọi là thiền Đại Thừa (Bồ Đề tâm thiền), thiền Kim Cương Thừa, thiền Tiểu Thừa. Mọi người gọi đó là thiền và thực sự rất thích tập thiền. Thiền thực chất là việc tập cho bản thân làm quen với một điều nào đó chẳng hạn như tập thiền với pháp tu Bồ Đề tâm. Bạn phải tập làm quen với những gì tôi vừa nói đến. Có thể hôm nay bạn chưa làm tốt được điều này song dần dần, nếu bạn kiên trì, sau một hai tuần, chắc chắn bạn sẽ làm tốt hơn một chút. Sau một hay hai tháng sẽ còn tốt hơn, rồi sang năm sau và những năm tiếp theo, bạn sẽ có thể thiền định dễ dàng mà không gặp phải khó khăn nào.

Trong thực tế, thiền là việc làm quen với những điều xung quanh bạn 

Cái được gọi là thiền thực chất là việc làm quen. Đó chỉ đơn thuần là việc bạn làm quen với những điều xung quanh mình. Hãy làm điều nó ngay bây giờ – ngay ngày hôm nay: ngày hôm nay có nghĩa là thời khắc này. Như tôi đã nói ở phần trước, chúng ta không thực sự quan tâm về những gì đang diễn ra xung quanh chúng ta. Chúng ta chỉ quan tâm đến những điều chúng ta quan tâm và khi chúng ta muốn một điều gì đó thì đó là điều duy nhất chúng ta tận tâm cống hiến. Và nếu điều đó không đạt được, chúng ta sẽ rất giận dữ, rất thất vọng và nếu thỉnh thoảng làm được điều đó, chúng ta sẽ rất hoan hỷ. Tất cả những điều chúng ta làm đều ngốc nghếch và chúng ta vô cùng ngoan cố. Chúng ta không quan tâm đến lời giáo huấn của các bậc tôn sư và thánh nhân. Chúng ta chỉ quan tâm đến những gì chúng ta muốn và điều này thật nực cười. Có hai loại tâm giác ngộ là Bồ Đề tâm nguyện và Bồ Đề tâm hạnh.

Trong trạng thái giác ngộ tương đối, có hai loại tâm giác ngộ khác nhau. Đó là Bồ Đề tâm nguyện và là Bồ Đề tâm hạnh. Tâm truyền cảm hứng giác ngộ thực chất gắn liền với tâm khát khao giác ngộ. Là một người thực hành, không quan trọng là bạn đang tu tập Kim Cương Thừa, Đại Thừa hay Tiểu Thừa, bạn cần có nguồn cảm hứng từ một điều gì đó. Đương nhiên, nếu bạn đang tu tập Bồ Đề tâm, điều này có nghĩa là bạn đang thực hành tâm từ bi; nếu vậy bạn phải có cảm hứng và phải làm quen với điều sẽ làm bạn thay đổi. Khi một điều nào đó có ảnh hưởng nhiều đến bạn, bạn sẽ nói, “ồ, điều này thật truyền cảm”. Không nhất thiết phải là một điều đẹp đẽ song phải là điều thực sự thu hút tâm trí của bạn thì mới truyền cảm hứng cho bạn được. Do vậy, trong pháp tu này, việc làm quen với mọi việc xung quanh phải truyền cảm hứng cho bạn. Như tôi đã nói ở phần trước, bạn có thể bị tác động trước những người nghèo khó, ăn xin hay những người ốm đau phải chịu đựng chứng đột quỵ, bệnh ngoài da, bệnh về mắt hay những loại bệnh khác. Bạn cũng cần làm quen với những hoàn cảnh khác như các quyền của con người và động vật, chiến tranh, thảm họa và những điều tương tự, bạn phải làm quen với mọi thứ xảy ra trong luân hồi. Điều này sẽ giúp bạn khai phát Bồ Đề tâm nguyện – và đây chính là sự tu tập. Thực hành đạo Phật, và cá nhân tôi cho rằng đối với bất kỳ tôn giáo nào cũng vậy, cần tạo cho chúng ta niềm cảm hứng. Đây là trọng tâm chính của các pháp tu như trì chú, tụng kinh, vũ điệu tâm linh và Thượng sư yoga… Tu các pháp này nhằm khai phát cảm hứng – chủ yếu ở nơi hành giả – để khai mở Bồ Đề tâm nguyện và sau đó sự gia trì cùng những điều tốt đẹp cần thiết khác sẽ tự đến mà không gặp phải bất kì trở ngại hay khó khăn gì.

Bồ Đề tâm nguyện chắc chắn sẽ tạo ra không gian rộng lớn để trang trải lòng bi mẫn

Tôi cho rằng đây là mục đích chính, đặc biệt trong Bồ Đề tâm. Trong thực hành lòng bi mẫn và tình yêu thương đích thực, chúng ta thực sự cần có cảm hứng, và khi đó Bồ Đề tâm nguyện chắc chắn sẽ tạo ra một không gian rộng mở. Nơi đó sẽ đủ chỗ để trải rộng lòng bi mẫn; không chỉ riêng lòng bi mẫn mà còn khích lệ tình yêu thương và sự hiểu biết đối với muôn loài chúng sinh. Cảm hứng có vai trò rất quan trọng trong mọi tôn giáo. Một số tôn giáo có lý thuyết về việc tạo ra cảm hứng cho các vị thần bằng cách tụng niệm, cúng dường và những hoạt động khác tương tự. Tuy nhiên, Phật giáo không nhấn mạnh đến đức Phật ở ngoài mà cho rằng phải tìm thấy Phật tại tâm. Đương nhiên, có nhiều học giả cho rằng Phật tử không tin vào thần thánh nhưng tôi không cho là như vậy. Người Phật tử tin rằng Phật hay tự tính chân như phải được tìm thấy bên trong mỗi con người. Theo đó, mọi hành giả Phật giáo phải có niềm cảm hứng, mặc dù đức tin của đạo Phật là không có vị thần nào ngự trên không trung hay trên mái nhà để nghe bạn tụng niệm truyền cảm hứng. Thay vào đó, với tư cách là những Phật tử, chúng ta tin tưởng rằng con người ta nên tự khích lệ bản thân. Như vậy, với sự trí giúp của việc tu tập, suy ngẫm, quán chiếu, thiền định hay làm quen, bạn sẽ có thể mở rộng tấm lòng hoặc ít ra cũng cảm thấy thư thái nhờ tự đem lại cảm hứng cho chính mình.

Tôi thích thiền quán; thiền quán đem lại cho tôi sự hiểu biết sâu sắc 

Điều này diễn ra thường xuyên khi bạn trì chú hoặc tụng kinh; bạn trì chú bằng một giai điệu du dương trầm bồng rồi sau đó thiền định. Tức là bạn quán chiếu, làm quen với giai điệu và thư giãn một chút, rồi bạn sẽ ngay lập tức cảm thấy thư thái như thể đang bơi giữa đại dương với nhịp điệu. Đây là tác động của Bồ Đề tâm nguyện, là dấu hiệu cho thấy Bồ Đề tâm nguyện đang hoạt động. Đây cũng có thể được gọi là một sự gia trì. Bạn muốn được thư thái, bình an trong tâm và bạn đạt được thông qua việc khích lệ bản thân với sự trí giúp của các phương pháp khác nhau như trì chú, tụng kinh, thiền định, quán chiếu. Đối với tôi, tôi thường thích suy ngẫm, quán chiếu. Suy ngẫm, quán chiếu cho tôi sự hiểu biết sâu sắc. Tôi thực sự không cố gắng đạt đến sự vui vẻ, hoan lạc; tôi không quan tâm đến chúng vì nếu bạn muốn có kiểu dục lạc này thì bạn có thể đạt được thông qua những phương pháp khác mang tính trần tục. Có nhiều cách để đạt được những điều ấy song khi bạn trải qua quá trình thực hành tâm linh thiêng liêng thì những gì bạn thực sự muốn đạt được là một hiểu biết sâu sắc, kết hợp với cảm giác thư thái. Đó là một cảm giác rất an bình và sâu sắc chỉ có thể thực sự đạt được thông qua suy ngẫm, quán chiếu, chẳng hạn như quán chiếu những gì đang diễn ra trên thế giới này. Suy ngẫm, quán chiếu một cách thấu đáo sẽ khích lệ bạn vững vàng không gặp nhiều khó khăn và tôi cho rằng nó sẽ tự nhiên vô tác diễn ra. Đây được gọi là Bồ Đề tâm nguyện. Hạnh nguyện này phải được tu tập thông qua suy ngẫm, quán chiếu hoàn cảnh xảy ra xung quanh bạn và, không chỉ có thế, mà còn cần suy ngẫm, quán chiếu về hoàn cảnh cá nhân bạn đang phải trải qua. Bạn cũng đang thầm lặng trải qua tất cả những thăng trầm. Bạn không cần giữ bí mật về những chuyện này. Có thể bạn muốn giữ kín những điều này không cho người khác biết vì bạn không muốn chúng được công khai, song tại sao bạn lại giữ bí mật với chính bản thân? Bạn cần tiết lộ những bí mật đó đối với chính bản thân. Nếu không, bạn đang tự dối lừa và không muốn đối mặt với mình. Có nhiều người đã lừa dối bạn, vì vậy tại sao bạn lại muốn lừa dối chính bản thân mình? Bạn phải nhìn thẳng vào những bí mật sâu kín của mình và sau đó, cố gắng suy ngẫm, quán chiếu về cả những điều đang diễn ra xung quanh. Nhìn chung, có lẽ là không ý thức được nên trong vô thức chúng ta giữ nhiều điều bí mật trước ngay cả bản thân. Chúng ta không muốn biết nhiều điều diễn ra ngay trong tâm mình và chúng ta không thực sự đi sâu tìm hiểu những gì đang thực sự diễn ra. Chúng ta rất nông cạn nên không hiểu được lòng bi mẫn và tình yêu thương là gì cũng như đâu là tầm quan trọng của những phẩm hạnh đó. Do vậy, sự thực hành Bồ Đề tâm bị tê liệt. Tôi đã đọc một số bài viết về lòng bi mẫn và tình yêu thương trong đó nói rằng chúng ta phải biết thương chính bản thân mình. Sau đó, bạn mới có thể cố gắng thực hành tình yêu thương đối với những người khác. Lúc còn trẻ khi được học về những điều này, tôi đã không thực sự hiểu cặn kẽ. Tuy nhiên, gần đây, tôi nhận ra rằng sự hiểu biết này là vô cùng quan trọng.

Cần biết làm thế nào để quán chiếu những gì đang xảy ra bên trong bạn và sau đó bạn có thể nghĩ đến những người khác

Trước tiên, bạn cần phải thương yêu chính bản thân mình. Bạn cần biết cách suy ngẫm, quán chiếu về những điều đang diễn ra bên trong bạn như thế nào và sau đó bạn có thể nghĩ đến những người khác; làm theo cách thức này sẽ sắc bén và hiệu quả hơn rất nhiều. Quán chiếu tâm niệm của bản thân không nhất thiết có nghĩa là phải quán chiếu những việc tốt xấu bạn đã làm, mà phải tỏ tường những việc bạn đang làm trong cuộc sống; bạn cũng phải đặt câu hỏi động cơ của bạn ở những việc đó là gỡ. Bạn sẽ biết rằng động cơ bạn có trong phần lớn thời gian mang rất nhiều màu sắc vị kỷ và nó luôn tạo ra “những điều sai trái”. Bằng thuật ngữ “điều sai trái”, tôi muốn nói việc bạn luôn làm điều tốt cho bạn nhưng lại không tốt cho những người khác. Sự việc luôn diễn ra như vậy. Do đó, một khi bạn đã hiểu biết về điều này thì chắc chắn bạn sẽ biết rằng mọi người cũng đang trải qua những điều tương tự. Ví dụ như, nếu bạn chặt một cây tre và bạn thấy bên trong rỗng thì bạn biết chắc rằng tre có thân rỗng. Vì thế, bạn không cần cắt tất cả các thân tre trên thế giới để kiểm tra xem liệu các cây tre có rỗng không. Chỉ cần kiểm tra một đến hai cây tre là đủ biết đây là sự thật. Tương tự như vậy, nếu bạn biết chính xác những gì bạn đang trải qua, cách bạn chèo lái con thuyền cuộc sống, những gì bạn đang thực sự tìm kiếm và bạn hành động như thế nào đối với mọi việc đang diễn ra xung quanh và bên trong con người bạn, thì bạn sẽ biết rằng mọi người cũng giống nhau. Việc hiểu biết được điều này tự nhiên khiến cho bạn thấy lý do để lòng từ bi hướng tới những người khác, đây là cách tu tập Bồ Đề tâm đích thực. Có nhiều cách để khai mở tâm từ bi như thông qua suy ngẫm, quán chiếu lòng tốt của chúng sinh và bạn đã được hưởng lòng tốt của chúng sinh như thế nào khi họ đã từng là mẹ và quyến thuộc của bạn. Đây là những lý do rất tốt song hơi phức tạp; bạn phải biết rằng vào một thời gian nào đó, tất cả mọi chúng sinh đều đã từng là mẹ của bạn và đều rất nhân hậu đối với bạn, dù cho hiện giờ họ có còn nhân hậu như thế hay không. Khi đó, bạn nhận được từ họ sự quan tâm vô hạn và sự đối xử tuyệt vời nhất. Đây là lý do tại sao bạn cần luôn giàu lòng từ bi khi bạn thấy chúng sinh khổ đau bởi lẽ trong quá khứ họ đó từng là mẹ của bạn. Chỉ vì sự thay đổi hình hài mà bạn không còn nhận ra họ nữa. Bạn không thể nhận ra họ là quyến thuộc nên mới không quan tâm. Trong thực tế, họ đã từng là cha mẹ, con cái của bạn trong vô lượng kiếp và ở mỗi kiếp ấy họ đều đã từng rất yêu quý và trao cho bạn những điều tốt đẹp nhất, giống như những gì bạn đang dành cho con cái mình. Họ chăm sóc bạn bằng cách tốt nhất và họ đã phải chết rất nhiều lần – hàng tỷ lần vì bạn, hy sinh cuộc sống của họ cho bạn và cứu sống bạn vô số lần. Có muôn vàn lý do chính đáng để đối xử nhân hậu với mọi người, vì mọi người đã từng là mẹ bạn – không chỉ một lần mà vô số lần. Đây là lý do chân thực để thương yêu người khác, tuy nhiên, từ kinh nghiệm của bản thân tôi cho thấy việc quán chiếu tâm niệm và đời sống của chính mình sẽ trực tiếp dạy ta cách thức thương yêu những người khác bởi vì những người khác cũng đang trải nghiệm những điều tương tự như chúng ta. Suy ngẫm, quán chiếu về hành động sát sinh cũng giống như vậy. Khi bạn suy nghĩ về việc tước đoạt sinh mạng của chúng sinh khác, điều đó không đơn giản chút nào. Nếu bạn tưởng tượng ra ai đó đang tước đi sinh mạng của bạn, thì bạn sẽ nghĩ gì và cảm giác như thế nào? Nhờ hiểu được điều này, hiển nhiên bạn sẽ tránh không đoạt mạng chúng sinh. Đây là lý do tại sao tôi lựa chọn ăn chay trường. Không phải vì tôi không thích mùi vị của thịt, mà đơn giản là vì tôi không thích ý nghĩ tước đi sinh mạng của các chúng sinh khác. Đương nhiên, tôi không giết hại động vật, song nếu tôi ăn thịt, thì nhiều người đó nhân danh tôi giết nhiều động vật và có người dường cho tôi. Đây chỉ là một ví dụ, song mọi người nên tu tập Bồ Đề tâm theo cách này – quán chiếu suy ngẫm những gì bạn đang suy nghĩ trong cuộc sống và đâu là giá trị của đời sống. Cuộc sống của mỗi chúng sinh đều rất có giá trị đối với chúng sinh đó. Vì thế, tại sao chúng ta không trao cho họ quyền được có cuộc sống thanh bình và an lạc? Tại sao chúng ta can thiệp vào đời sống và tước đoạt sinh mạng của các chúng sinh khác, làm họ buồn phiền bằng cách mắng chửi họ, nói những điều vô nghĩa hay bằng cách gây ra những ác nghiệp khác? Tại sao chúng ta lại làm họ phiền não như thể họ không có quyền gì? Chúng ta không nên có ý định làm họ phiền não, thay vào đó hãy mang đến cho họ hạnh phúc và niềm vui. Nếu không làm được, chúng ta hãy để họ yên vì họ hoàn toàn có quyền được vui sống. Chúng ta cần hiểu rõ điều này. Bồ Đề tâm nguyện bao hàm sự hiểu biết về tầm quan trọng của sinh mạng những chúng sinh khác cũng như tầm quan trọng của an lạc và hạnh phúc đối với tất cả hữu tình chúng ta – không chỉ riêng với “cái tôi bản ngã”. Nên nghĩ rằng mọi chúng sinh đều có quyền được hưởng niềm vui như nhau. Thế nên, tại sao chúng ta lại không cho họ những quyền họ được hưởng?

Hãy để chúng sinh tự tận hưởng niềm vui sống của mình 

Hãy để chúng sinh tự tận hưởng niềm vui sống của mình thay vì việc can thiệp vào cuộc sống của họ. Suy nghĩ như thế được gọi là Bồ Đề tâm nguyện vì bạn đã hiểu biết. Điều quan trọng là bạn cần tìm hiểu và quán chiếu về bản thân, sau đó tự bạn sẽ phải tiến dần từng bước. Hiểu biết đó là của riêng bạn và rồi cuối cùng bạn sẽ thấy được khích lệ. Đây được gọi là Bồ Đề tâm nguyện, hay tâm khát khao giác ngộ. Giác ngộ, như tôi đã nói ở phần trước, có nghĩa là trí tuệ hiểu biết – một hiểu biết vĩ đại. Không chỉ là hiểu biết, mà còn được gọi là giác ngộ. Tâm giác ngộ này được gọi là Bồ Đề tâm nguyện. Nhờ đó, chúng ta có thể thực hành bố thí, trì giới, tinh tiến, thiền định, v.v… Sẽ không có trở ngại nào nhờ tâm khát khao giác ngộ mãnh liệt này. Một nỗ lực mạnh mẽ và tự nhiên sẽ phát khởi bởi lẽ bạn thực sự muốn giúp đỡ chúng sinh và đây chính là phương pháp thực hành. Thực hành vì những lý do vị kỷ không phải là con đường của Đạo Phật; động lực phải đến từ sự hiểu biết về nhu cầu của chúng sinh và tâm nguyện giúp đỡ họ thông qua thực hành giáo pháp và các pháp tu như bố thí, v.v…

Sự thực hành Bồ Đề tâm hạnh không thể là chân chính nếu Bồ Đề tâm nguyện không được khai phát

Sau khi đã phát triển Bồ Đề nguyện, bước tiếp theo là thực hành Bồ Đề hạnh – tu tập Bồ Đề

Sau khi đã phát triển Bồ Đề nguyện, bước tiếp theo là thực hành Bồ Đề hạnh – tu tập Bồ Đề tâm – bố thí, nhẫn nhục. Tuy nhiên, lục độ ba la mật không thể được tu tập một cách chân chính khi Bồ Đề nguyện chưa được phát triển. Điều này rất quan trọng. Nếu bạn đang cố gắng thực hành bố thí và các Ba la mật khác mà không hiểu về Bồ Đề nguyện thì hầu hết sự tu tập sẽ được thực hiện một cách vị kỷ. Ví dụ như, khi thực hành bố thí, bạn có thể bố thí một chút và sau đó hy vọng nhận được một thứ gì đó. Bạn có thể cho đi một đô la và mong nhận lại mười đô la. Bạn cho đi một trăm đô la và mong nhận lại một nghìn đô la. Bạn có thể cúng dường một bậc đạo sư mười đô la và đỉnh lễ ngài, v.v… để sau đó kỳ vọng vào ngày hôm sau, đạo sư sẽ làm nâng giá các cổ phiếu trên thị trường chứng khoán và giúp bạn kiếm được một triệu đô la! Như thế, mười đô la có thể biến thành một tỷ đô la. Đó là một sự đầu tư rất có lãi, song theo giáo pháp của Bồ tát thì kiểu hoài vọng đó hoàn toàn không phải là đúng đắn. Nó không chỉ không đúng với việc cúng dường đạo sư mà còn không đúng với bất kỳ sự thực hành bố thí nào, như bố thí cho người ăn xin hay làm từ thiện; không nên kèm theo đó bất cứ điều kiện vị kỷ nào. Ví dụ như, khi tài trí cho một công ty hay một dự án, hành động này phải được thực hiện với một thái độ thực sự thiện chí, hoàn toàn mong muốn giúp đỡ; nếu ai đó cảm ơn bạn thì cũng tốt, song nếu không nhận được lời cảm ơn nào thì cũng chẳng sao, dù thế nào bạn vẫn bố thí. Điều này có nghĩa là bố thí phải xuất phát từ tâm với sự hiểu biết về Bồ Đề tâm nguyện. Những pháp tu này sẽ trở nên khó khăn do bạn không có sự khai triển nền tảng Bồ Đề nguyện. Khó khăn là vì bạn đặt điều kiện để rồi bất cứ điều gì bạn làm hoặc bố thí đều bị ràng buộc. Như thế là rất vị kỷ và là nguyên nhân gây ra nhiều vấn đề. Chẳng hạn, chúng ta cho đi một thứ và sau đó kỳ vọng nhận lại được thứ khác. Có thể không phải lúc nào cũng như vậy song thông thường thì như thế. Khi bạn cho đi nhiều hơn, bạn hy vọng sẽ được nhận lại nhiều hơn một chút nữa so với những gì bạn đã cho người khác. Sau đó bạn sẽ một lần nữa lại cho hơn những thứ mọi người đã cho bạn và chuyện đó không có điểm dừng. Cuối cùng, các bạn sẽ thấy ghét nhau! “ồ, anh ta lại đến à? Phải… vậy thì hãy đóng cửa, đừng cho anh ta vào vì anh ta đang trông đợi việc mình sẽ cho anh ta thứ gì đó.” Tôi đã chứng kiến nhiều người gặp phải vấn đề này. Bạn tạo ra để tự chuốc lấy cảnh ngộ này để rồi sau đó cảm thấy: “Ôi, thế là quá đủ, thật khốn khổ.” Vì vậy, bạn muốn dừng lại, mà dừng lại đồng nghĩa với bạn phải làm rất nhiều việc. Bạn sẽ phải lảng tránh, nói dối, thay đổi số điện thoại hoặc bất cứ thứ gì tương tự! Nó kéo theo rất nhiều chuyện đau đầu song sự thực chính bạn là người gây nên. Trong thực tế, phiền não xuất hiện ngay từ lúc bắt đầu nhưng bạn thích thú điều đó vì bản ngã của mình. Bạn thấy thích thú khi bắt đầu, song về sau, hóa ra lại là một gánh nặng rất khó khăn. Do đó, nếu bạn cho đi, bạn phải cho đi với hiểu biết về Bồ Đề nguyện. Nếu không, hãy đừng bố thí; nếu bố thí, hãy đừng hy vọng được đền đáp. Đây là thực hành Bồ Đề tâm. Điều đầu tiên trong Lục độ Ba la mật mà Đức Phật Thích Ca Mâu Ni dạy là bố thí. Ba la mật thứ hai là trì giới song tôi sẽ đề cập đến Ba la mật này và các Ba la mật khác trong những phần sau. Thực hành bố thí Ba la mật là một pháp thực hành khác, vì nó không chỉ giới hạn trong cúng dường phẩm vật mà còn bao gồm những việc khác, ví dụ như bố thí pháp. Bạn có thể không đủ trình độ thuyết pháp vì bạn không phải là một bậc Thầy – hoặc có thể là một bậc Thầy có trình độ, song điều tối thiểu bạn có thể làm là đem lại an lạc và giải thoát khỏi khổ đau cho người khác. Đó có thể không phải là một bài thuyết pháp chính thức nhưng có thể là sự khích lệ, động viên. Chỉ riêng việc khuyến khích và truyền cảm hứng cho người khác đã là một sự thực hành bố thí rất tốt rồi; đó là một trong những điều lớn lao nhất, bởi vì pháp lợi ích hơn bất cứ món quà nào bạn có thể cho đi. Cách bố thí thứ ba là vô úy thí: che chở bảo vệ chúng sinh khỏi sự sợ hãi. Đây là pháp tu bố thí cao quý. Chẳng hạn như khi có người cần được che chở trong những giai đoạn khó khăn của cuộc đời như đang gặp phải kiện tụng, bệnh tật, bị mất cắp hay tính mạng bị đe dọa và bạn chở che cho họ, đây là sự bố thí vô cùng lớn lao. Như vậy, Đức Phật chia bố thí thành ba loại. Tu bất kỳ pháp nào trong ba pháp bố thí này đều là sự thực hành Bồ tát đạo và phải xuất phát từ tấm lòng chân thành. Bố thí của cải vật chất (tài thí) phải được thực hiện với tâm chân thật vô điều kiện – thông qua Bồ Đề tâm. Bố thí pháp cũng phải thẳng thắn, trực tiếp, vô điều kiện. Ví dụ, người thầy phải giảng pháp cho đệ tử một cách vô điều kiện, chỉ vì động cơ thanh tịnh là nhằm giúp đỡ chúng sinh, không phải vì những lý do như: “Được thôi, ta sẽ giảng và sau đó mọi người có thể yêu quý ta và trở thành những đệ tử; về sau họ có thể giúp đỡ, cầu nguyện cho ta, và ta sẽ có danh tiếng, sẽ trở thành một đạo sư nổi tiếng.”

Nếu bài thuyết pháp bị những động cơ sai trái làm cho nhiễm ô thì nó sẽ giống như độc dược

Về phía người thầy có thể khởi phát những động cơ không trong sáng. Một người thầy với Bồ Đề Tâm chân chính – một vị Bồ tát, một bậc đạo sư – sẽ không bao giờ có những động cơ không ngay thẳng như thế trong suy nghĩ của họ. Họ thuyết giảng một cách vô điều kiện. Thuyết pháp được như thế sẽ giúp ích cho rất nhiều người và đem lại lợi lạc vô lượng. Nếu bài thuyết pháp bị những động cơ sai trái, bất tịnh – một kiểu động cơ vòng vèo như tôi đã nói – làm cho nhiễm ô thì nó sẽ giống như độc dược. Mặc dù người thầy đó có thể thuyết giảng rất hay, rất mạch lạc và thâm thúy, nhưng những lời giảng ấy sẽ không có ích và thay vì đem lại lợi lạc cho mọi người, nó có thể làm phương hại đến tâm thức của họ. Ngay cả khi người thầy đó có sự an bình nhất định trong tâm, nhưng bài pháp kèm theo kiểu động cơ này sẽ khuấy động tâm thức bạn và hậu quả là bạn sẽ bị phiền não. Theo Bồ tát đạo, động cơ như vậy không phải là động cơ chân thực.

Đức Pháp Vương Gyalwang Drukpa
Việt dịch: Vô Úy
Nguồn: Tâm Giác Ngộ