CHIA SẺ

Kyabje[1] Chatral Sangye Dorje Rinpoche là một trong những vị yogi chứng ngộ nhất của Phật giáo Tây Tạng còn sống hiện nay. Năm 1947, ngài đã có địa vị cao quý của một Bậc Giáo thọ sư của lãnh đạo xứ Tây Tạng, Nhiếp chính Reting, nhưng ngài luôn thích sống như một vị yogi bình thường không bị xao lãng bởi danh tiếng và tiền bạc. Ngài thực hành điều ngài thuyết giảng mà không có sự thỏa hiệp nào, và kết quả là, ngài được yêu quý bởi người dân thuộc mọi tôn giáo ở khắp vùng Himalaya.

Rinpoche sinh năm 1913 ở thung lũng Nyak Adzi, thuộc tỉnh Kham, Tây Tạng trong một gia đình sùng đạo thuộc tộc Abse, với cha là ngài Pema Dondrub, và mẹ là bà Sonam Tso[2]. Một ngày sau khi chào đời, một vị lạt ma trong vùng tên là Asey Bigo Tulku Nyima Gyaltsen đến thăm ngôi nhà của ông bà Pema và Sonam để kể cho họ về một linh kiến mà lạt ma này có vào ngày trước khi Rinpoche chào đời, trong đó một con lừa trắng chất rất nhiều Kinh điển Phật giáo đến nhà ông bà Pema và Sonam và mang những bản văn này đến cho họ. Với linh kiến này, ngài ban cho đứa bé cái tên Trogyal Dorje, nghĩa là “Đấng Vinh Quang Phẫn Nộ Kim Cương.”

Gia đình ngài Chatral Rinpoche chuyển tới Amdo với bộ tộc của họ khi ngài còn là một đứa trẻ nhỏ. Lên mười lăm, Rinpoche quyết định rời nhà để nghiên cứu và thực hành Đạo Phật với các bậc Đạo sư trong vùng. Hành động từ bỏ này là khởi đầu cho hành trình suốt đời như một vị yogi tự do kiếm tìm giác ngộ bằng bất cứ giá nào để giúp đỡ người khác với lòng từ bi một cách hiệu quả. Ngay từ đầu, Rinpoche giữ gìn giới luật nghiêm túc, du hành bằng chân và từ chối dùng ngựa khi được cúng dường. Ngài chỉ ở trong các ẩn thất, hang động hay túp lều nhỏ để tránh vướng bận với những gia chủ và bận tâm thế tục.

Đoạn văn sau đây của Đạo sư Cổ Mật, ngài Kyabje Dudjom Rinpoche, trích từ “Sự giảng giải trực tiếp và đơn giản Pháp thực hành nhập thất trên núi trong sự trần trụi tự nhiên của nó,” dường như là những giới nguyện mà Chatral Rinpoche đã làm theo từ khi ngài rời gia đình:

Kinh điển nói rằng, “Với việc từ bỏ quê hương, một nửa Pháp đã được thành tựu.” Bởi vậy, để lại quê hương đằng sau, hãy lang thang ở những miền xa lạ. Chia tay bạn bè và người thân theo cách dễ chịu, hãy thờ ơ với những người đang cố thuyết phục bạn từ bỏ Pháp. Dâng hiến mọi tài sản, hãy nương tựa vào đồ bố thí đến với bạn. Hiểu rằng mọi tham luyến là chướng ngại đi kèm với các thói quen xấu, hãy phát triển tâm vô tư. Nếu – về tài sản và những thứ khác – bạn không biết cách hài lòng với chỉ một ít, khi bạn có một, bạn sẽ muốn có hai và ma quỷ ảo mộng của những đối tượng tham luyến sẽ bước vào cuộc đời bạn chẳng khó khăn gì …

Bạn nên mang theo trên con đường mọi kết nối, cả với những người kính trọng bạn và đối xử tốt với bạn và với những người ghét bạn và đối xử tệ; tốt hay xấu, đừng quan tâm, hãy chấp nhận họ với mong ước thanh tịnh và tốt lành. Mọi lúc, hãy giữ tinh thần bên trong thật tốt không nản lòng, và bên ngoài, trên con đường hành động, hãy giữ hạnh khiêm cung. Hãy mặc quần áo sờn rách. Hãy coi mọi người – tốt, xấu hay trung lập – là hơn bạn. Hãy cố định tham vọng của bạn vào hoàn cảnh một người ăn xin …

Thậm chí khi thiền định đã hòa nhập tâm bạn, bạn cần tiếp tục vun bồi nó; nếu không thì những chỉ dẫn sâu sắc sẽ bị bỏ lại trên những trang sách và tâm bạn, Pháp của bạn và thực hành của bạn sẽ trở nên không bị ảnh hưởng đến mức thiền định chân chính sẽ không bao giờ đến. Các bạn, những thiền gia già, vẫn là người mới trong thực hành, hãy coi chừng – bạn có thể chết với đầu bị sát muối.[3]

Chatral Rinpoche thọ nhận trao truyền bộ terma[4] của Terton Dudjom Lingpa (1835 – 1903) từ con trai của vị Terton, ngài Dorje Dradul (1891 – 1959). Sau đó Rinpoche trở thành Bậc Nhiếp chính Kim Cương hay Bậc Trì giữ chính yếu của bộ giáo lý này, tức Dudjom Tersar. Một vị thầy chính yếu khác của Rinpoche là Khandro Dewai Dorje (1899 – 1952), con dâu của Terton Dudjom Lingpa. Bà đã trao truyền cho Rinpoche toàn bộ terma Sera Khandro và ngài trở thành bậc trì giữ chính yếu của truyền thừa này.

Lúc này, Chatral Rinpoche gặp được vị thầy gốc của ngài, Khenpo Ngawang Palzang (1879 – 1941) của tu viện Kathok[5]. Khenpo vĩ đại là tâm tử của đệ tử chính của ngài Patrul Rinpoche, Lungtok Tenpai Nyima (1829 – 1901)[6], và được coi là hóa thân của bậc Đạo sư Dzogchen[7] thế kỷ chín, ngài Vimalamitra. Khenpo Ngakchung ban cho Chatral Rinpoche rất nhiều giáo lý và trao truyền – đặc biệt là giáo lý của truyền thống Longchen Nyingthig[8] – và sáu năm sau đó, Rinpoche học tập dưới sự chỉ dạy của ngài, hoàn thành ngondro[9] và thực hành trekchod[10] và togyal[11], một vài các thực hành cao cấp nhất của Dzogchen. Rinpoche cũng học tập với nhiều bậc Đạo sư khác ở tu viện Kathok, bên cạnh đó còn có ngài Khyentse Chokyi Lodro (1893 – 1959)[12] của tu viện Dzongsar, tu viện này (giống như Kathok) nằm ở vùng Derge của tỉnh Kham.

Khenpo Ngawang Palzang biết rằng Rinpoche vô cùng đặc biệt và công nhận ngài là đệ tử thân thiết nhất, giải thích rằng, “tâm của hai vị không khác biệt.”[13] Ngài ban cho Rinpoche Pháp danh Chatral Sangye Dorje, nghĩa là “Phật Vô úy bậc từ bỏ mọi hoạt động tầm thường.”

Lần đầu tiên sự vĩ đại của Chatral Rinpoche được phát lộ với người khác là tại buổi lễ lớn ở tu viện Kathok, với nhiều vị lạt ma cao cấp tham gia, ngự trên những chiếc ngai cao. Rinpoche ngồi ở đằng sau trên tấm nệm thiền định đơn giản cùng với vài trăm vị tăng khác. Trong buổi lễ, Khenpo Ngawang Palzang đánh giá rằng:

Trong tất cả các ngài có mặt ở đây hôm nay, có ít hơn mười người chứng ngộ bằng một phần mười của ta. Kế đó, có ít hơn năm người có sự chứng ngộ bằng một nửa của ta. Cuối cùng, chỉ có một người chứng ngộ không khác biệt với ta, và đó là Chatral Sangye Dorje. Ngài có thể đại diện ta trao truyền các giáo lý và công đức của ngài là giống như của ta.

Lời tuyên bố này gây ra sự xáo động trong đám đông và sau đó mọi người đến chúc mừng Rinpoche. Người ta chuẩn bị cho một nghi lễ lớn để tôn vinh Rinpoche trong địa vị mới. Rinpoche không phải người thích những quan tâm và tán dương này và bởi vậy đã bỏ đi vào nửa đêm với lều để tiếp tục thực hành cô độc ở những miền đất hoang vu. Ngày hôm sau khi người ta đến tôn vinh ngài, họ thấy căn phòng trống không và không biết ngài đã đi đâu. Một lần nữa, ngài sống với cái tên Chatral, nghĩa là “ẩn sĩ.”

Chatral Rinpoche từng giải thích rằng, “Chúng ta không ở đâu, chúng ta không sở hữu gì.”[14] Trong nhận thức tuyệt đối, đây là lời khẳng định thâm sâu về sự vô thường của cuộc đời và bản tánh trống rỗng của mọi vật. Ở cấp độ tương đối, đây là cách mà một vị yogi như Chatral Rinpoche thực sự sống ở Tây Tạng. Không nhà cửa hay tài sản để gánh nặng trong tâm, người ta hoàn toàn tự do để hành Pháp. Còn về những nghịch cảnh của sự bất mãn vật lý và những bữa ăn không đều đặn, Dudjom Rinpoche giải thích rằng, “Khi chứng ngộ rộng lớn như hư không, mọi nghịch cảnh khởi lên như người bạn.”

Năm 1947, vị Nhiếp chính của Tây Tạng, ngài Reting, vị lãnh đạo chính trị của đất nước cho đến khi Đạt Lai Lạt Ma hiện tại trưởng thành, thỉnh cầu giáo lý từ Khenpo Ngakchung, người đã nói với ngài rằng, “Tôi đã quá già để trao truyền giáo lý cho ngài. Tôi có một đệ tử mà tâm và sự chứng ngộ đều giống tôi và đó là Chatral Sangye Dorje. Ngài có thể thỉnh cầu giáo lý từ vị này.”[15]

Nhiếp chính Reting tìm kiếm Chatral Rinpoche khắp nơi và tìm thấy ngài đang thiền định ở một hang động xa xôi. Khi nghe lời thỉnh cầu, Rinpoche đáp rằng, “Tôi xin lỗi, tôi chẳng có gì đặc biệt và tôi không có gì để dạy ngài. Xin hãy đi nơi khác tìm giáo lý!”. Sau đó Nhiếp chính đưa bức thư của Khenpo Ngakchung, và Rinpoche miễn cưỡng đồng ý để Lhasa để dạy Nhiếp chính Reting.

Mọi người từ khắp nơi đổ về Lhasa để gặp Rinpoche và thọ nhận giáo lý và gia trì từ ngài. Trong đó có các vị lạt ma cao cấp, những lãnh đạo chính trị và cả những người bình thường, họ đã cúng dường Rinpoche rất nhiều. Một cách tự nhiên, ngài thấy tất cả sự chú tâm này như là xao lãng cho phát triển tâm linh của ngài. Ngài yêu cầu có thời gian để thiền định ở vùng xa xôi so với Lhasa. Nhiếp chính đồng ý và gửi một đoàn tùy tùng gồm đầy tớ và lính gác đến hộ tống Rinpoche trên hành trình. Sau khi họ đến, Rinpoche bảo nhóm đàn ông này quay về Lhasa để ngài có thể thiền định độc cư. Nhiếp chính không muốn thầy ngài cô độc, bởi vậy cử vài lính gác quay lại chỗ Rinpoche. Trên đường đi, họ thấy một kẻ ăn xin khốn khó mặc y gấm hoàng gia. Chatral Rinpoche đã đổi bộ quần áo đẹp đẽ này lấy đống giẻ rách của kẻ ăn xin theo kiểu của một yogi thực sự!

Một bậc Đạo sư tâm linh khác đến với cuộc đời Chatral Rinpoche là Kyabje Dudjom Rinpoche, Jigdral Yeshe Dorje, một hóa thân của Terton Dudjom Lingpa[16]. Dudjom Rinpoche đã trao truyền cho Chatral Rinpoche toàn bộ giáo lý Dudjom Tersar, và coi ngài là Vị Nhiếp chính Tâm linh của truyền thống. Ngài viết về Chatral Rinpoche như sau:

Với tất cả những người có tri giác – chúng sinh lớn hay bé – sống trong cõi luân hồi này; lúc này, Bậc trì giữ Giác tánh Trogyal Dorje [Chatral Rinpoche] đã thọ nhận từ ta những chỉ dẫn của dòng nhĩ truyền các giáo lý thâm sâu – máu tinh túy của chư Dakini[17]. Ta giáo phó cho ngài dòng truyền thừa ý nghĩa, trao cho ngài sức mạnh là vị Nhiếp chính của ta để hướng dẫn chúng sinh và khuyến khích ngài chèo lái con thuyền đệ tử đến giải thoát.

Vì thế, bất cứ vị trời, ma quỷ hay người nào giúp đỡ ngài Trogyal Dorje theo cách thích hợp sẽ tự nhiên có nhiều lợi lạc và hạnh phúc trong đời này và các đời tương lai. Tuy nhiên, thậm chí nếu ý nghĩ hay hành động xấu xa dù nhỏ bé nhất hướng về ngài khởi lên, quân đội của lính canh hống hách của giáo lý – với sức mạnh phẫn nộ và con mắt trí tuệ – sẽ đến trợ giúp ngài. Họ sẽ kết thúc nguồn sống của những chúng sinh có hình tướng hay ngăn chặn nhận thức của những kẻ không có hình tướng và xua tan tên gọi của chúng. Ở đâu có cơ hội của lợi lạc hay mất mát như vậy, hãy cực kỳ cẩn trọng![18]

Chatral Rinpoche trở thành tâm tử của Dudjom Rinpcohe và nhận lãnh trách nhiệm là Nhiếp chính của giáo lý Dudjom Tersar một cách nghiêm cẩn, bảo vệ vị thầy cao quý của ngài và dòng truyền thừa khỏi các thế lực phá hoại.

Một ngày vào đầu những năm 1950, Dudjom Rinpoche đang nhận quán đảnh trong terma của truyền thống Chokgyur Lingpa từ Tulku Urgyen Rinpoche khi Chatral Rinpoche đi qua. Tulku Urgyen Rinpoche là một người họ hàng xa lạ lúc đó và Chatral Rinpoche nghi ngờ những phẩm tính của ngài cho việc ban một quán đảnh cho Đạo sư từ ái của ngài. Tulku Urgyen Rinpoche miêu tả cuộc trao đổi với Chatral Rinpoche như sau:

Cuộc trò chuyện của chúng tôi bắt đầu thế này: “Ông, Lạt ma! Ông đến từ đâu?” ngài hỏi một cách thô lỗ.

“Tôi đến từ Nangchen.”

“Ở đâu của Nangchen?”

“Tôi là hậu duệ của Chokgyur Lingpa.”

“Tôi từng đến Tsikey và tôi chẳng thấy ông ở đó.”

“Tôi thường không ở Tsikey.”

“Vậy ông đến từ đâu? Ở ngoài đó!”

“Con gái của Chokgyur Lingpa, Konchok Paldron, có bốn con trai và một trong số đó là cha tôi.”

“Ừm … Tôi có nghe rằng ông là cháu trai của Neten Choking. Tôi biết ngài từ tu viện Dzongsar, nơi ngài đến thăm Đức Dzongsar Khyentse, nhưng tôi chưa từng nghe ngài có cháu trai là lạt ma. Bây giờ tôi được biết Dudjom Rinpoche của chúng ta đang nhận Ba phần[19] từ người cháu này, và chúng ta đều biết rất nhiều lạt ma “được gọi là” người Khampa đến miền Trung Tây Tạng này và cố gắng lừa bịp. Bởi vậy, tôi tự hỏi ông có phải một trong số đó. Ừm…”

Ngài nhìn tôi một lúc lâu. “Rất nhiều lạt ma Khampa đến đây và lừa mọi người bằng cách ban quán đảnh, mà họ chẳng có truyền thừa.”

Dudjom Rinpoche, đang ngồi ngay đó, xen ngang, và nói rằng, “Chính ta là người thỉnh cầu ông ấy ban trao truyền.”

Và ngay lập tức Dudjom Rinpoche và Chatral Rinpoche bắt đầu nói đùa, trong đó Chatral Rinpoche quay ra cười với tôi và nói rằng, “Ồ, tôi đoán ông không phải là giả – ông có thể tiếp tục và ban cho ngài quán đảnh.”[20]

Chatral Rinpoche giành rất nhiều thời gian để thực hành trong các hang động được gia trì bởi Guru Padmasambhava,[21] bậc tổ sư của Phật giáo Tây Tạng và suối nguồn của các giáo lý terma, nền tảng của rất nhiều dòng truyền thừa của truyền thống Cổ Mật.[22] Chatral Rinpoche thực sự được xem là hóa thân về tâm của Guru Padmasambhava, dựa trên những tiên đoán về sự ra đời và trí tuệ được chứng minh của ngài.[23]

Cuối những năm 1950, Chatral Rinpoche đến Bhutan. Ngài không bị ép buộc bởi biến cố 10 Tháng 3, năm 1959 như nhiều người Tạng khác[24], mà đến Bhutan một cách tự do. Điều này có thể cho thấy ngài là hóa thân về tâm của Guru Padmasambhava, như Guru Rinpoche đã tiên đoán rằng người dân Tạng sẽ bị đuổi khỏi quê hương vào thời kỳ hiện đại này và Chatral Rinpoche dường như biết thời điểm thích hợp cho ngài để du hành đến những nơi khác trong vùng Himalaya.[25] Khi ngài được hỏi chuyến đi thế nào, ngài cười và đáp rằng, “Hoàn toàn tự do, nhẹ nhàng và hạnh phúc.”[26]

Chatral Rinpoche du hành đến vùng Darjeeling, nơi ngài tái thiết một ngôi chùa đơn giản và biến nó thành trung tâm nhập thất ba năm cho thực hành Longchen Nyingthig. Đây là trung tâm đầu tiên được xây dựng bởi người Tây Tạng ở ngoài xứ Tuyết. Sau đó Rinpoche đến một vài thánh tích Phật giáo quan trọng ở Ấn Độ. Khi đang viếng thăm nơi Phật thành tựu Chánh giác năm 1960, ngài đã có một hứa nguyện, trở thành một phần quan trọng của cuộc đời ngài. Ngài nói rằng, “Tôi đến Bồ Đề Đạo Tràng và hứa nguyện trước tất cả chư Phật và Bồ Tát từ bỏ thịt và rượu.”[27] Rinpoche khá độc đáo trong thái độ kỷ luật mạnh mẽ về vấn đề này và điều này là một phần khiến ngài được kính trọng bởi những ai biết đến.

Một vài năm sau, ngài gặp Kusho Kamala, con gái Terton Tulzhok Lingpa, người trở thành sangyum của ngài[28]. Họ có hai con gái, Saraswati và Tara Devi. Saraswati phục vụ như thị giả chính của ngài và bà nói tiếng Anh rất tốt. Bà được coi là hóa thân của Dakini Sera Khandro.

Năm 1968, ở Darjeeling, Chatral Rinpoche có buổi nói chuyện nổi tiếng với thầy tu kín Cha Thomas Merton, một hành giả cao cấp của truyền thống Zen, được kính trọng bởi nhiều Phật tử. Merton viết về buổi gặp gỡ như sau:

… đó là Chatral, vị Rinpoche vĩ đại nhất mà tôi từng gặp, một con người vô cùng ấn tượng. Chatral trông như một lão nông khỏe mạnh trong cái áo của xứ Bhutan, cuốn chặt ở cổ với roi da và mủ len màu đỏ trên đầu. Ngài có bộ râu dài, mắt sáng, giọng khỏe và rất rõ ràng. Chúng tôi bắt đầu nói về Dzogchen và thiền định Nyingma và “sự chứng ngộ trực tiếp” và nhanh chóng nhận ra rằng chúng tôi đồng tình ở nhiều điểm. Chúng tôi chắc đã nói trong hai giờ hay nhiều hơn, bao gồm tất cả nền tảng, phần lớn xoay quanh các vấn đề về Dzogchen, nhưng có lấy vài điểm giáo lý của Thiên Chúa so sánh với Pháp thân Phật,[29] khổ đau, từ bi với mọi sinh vật, động cơ cho việc “giúp đỡ người khác,” nhưng tất cả đều quay trở về Dzogchen, tánh không tối thượng, sự hợp nhất của tánh không và từ bi, “vượt khỏi Pháp thân” và “vượt khỏi Chúa” đến tánh không hoàn hảo tuyệt đối.

Ngài nói rằng ngài đã thiền định cô tịch trong ba mười năm hoặc hơn và ngài chưa chứng ngộ tánh không hoàn hảo và tôi nói tôi cũng chưa. Thông điệp không được nói ra hay nói ra một chút của buổi nói chuyện là sự hiểu hoàn toàn lẫn nhau của chúng tôi như thể ai đó ở bờ của sự chứng ngộ vĩ đại và biết nó và đang cố gắng, như thế nào đó, để đi ra và lạc trong nó. Tôi mong rằng tôi có thể gặp ngài Chatral nhiều hơn. Ngài phá lên và gọi tôi là một Rangjung Sangay (nghĩa là “Phật tự nhiên”) và nói rằng ngài đã được đặt tên là Sangay Dorje. Ngài viết từ “Rangjung Sangay” bằng tiếng Tạng cho tôi và nói rằng khi tôi bước vào “vương quốc vĩ đại” và “cung điện” thì nước Mỹ và tất cả ở trong đó có vẻ như không có gì. Ngài nói, một cách nghiêm túc rằng, có lẽ ngài và tôi sẽ đạt Phật quả hoàn toàn trong đời tiếp theo, có lẽ thậm chí trong đời này, và đoạn chú thích là một kiểu giao kèo rằng chúng tôi sẽ cùng cố gắng hết sức để làm điều đó trong đời này. Tôi vô cùng xúc động, bởi vì hiển nhiên ngài là một người vĩ đại, một hành giả chân chính của Dzogchen, vị lạt ma Cổ Mật tốt nhất, với sự đơn giản và tự do hoàn toàn … Nếu tôi sắp ở cùng một vị Guru Tây Tạng, tôi nghĩ Chatral là người tôi chọn.

Sau đó người ta nghe được Merton nói rằng, “Đó là người vĩ đại nhất mà tôi gặp, Ngài là thầy của tôi.”

Chatral Rinpoche vô cùng kiên quyết trong nghiên cứu và thực hành. Ở Ấn Độ, ngài thọ nhận các giáo lý từ Kalu Rinpoche, và trở thành bạn thân, và Ngài Karmapa đời thứ 16 Rangjung Rigpe Dorje. Ngài thọ nhận giáo Pháp từ trên một trăm Đạo sư, từ rất nhiều truyền thống của Phật giáo Tây Tạng. Tầm hiểu biết của ngài được hiển bày trong các trước tác, khi ngài trích dẫn các bản văn từ vô số các truyền thống để củng cố luận điểm ngài trình bày.

Chatral Rinpoche đã thành lập hay tái thiết nhiều trung tâm nhập thất ở Bhutan, Ấn Độ và Nepal, cũng như giám sát việc xây dựng nhiều Bảo tháp.[30] Dudjom Rinpoche đã làm lễ gia trì cho trung tâm của Rinpoche ở Darjeeling năm 1962 và trong mười năm sau đã giúp đỡ Rinpoche xây dựng một trung tâm ở Yangleshod, Nepal, nơi ngài nghĩ sẽ là một địa điểm tốt lành, bởi Guru Padmasambhava đã thành tựu nhiều thực hành quan trọng ở đây. Tu viện này, nằm ở rìa thung lũng Kathmandu và được gọi là Rigzin Drubpe Ghatsal, “Rừng hoan hỉ trong địa điểm thành tựu của Bậc Trì giữ Giác tánh vinh quang,” là một trong các trụ xứ chính của Rinpoche trong nhiều năm. So với nhiều vị lạt ma có nhiều trụ xứ đẹp đẽ khác, nơi ở của Rinpoche vô cùng giản dị và ấm cúng.

Hàng nghìn người vùng Himalaya coi Chatral Rinpoche là vị thầy gốc của họ bởi vì, qua các hành động từ bi và trí tuệ rộng lớn của ngài, ngài là hiện thân hoàn hảo của giáo lý Phật Đà. Tuy nhiên, ngài vô cùng cẩn trọng trong việc chọn lựa người thọ nhận giáo lý. Ngài biết rõ rằng phần lớn những người thỉnh cầu ngài giáo Pháp chẳng hề nghiêm túc về thực hành của họ như ngài, bởi vậy ngài không muốn lãng phí cam lồ quý giá giáo lý của ngài cho một bình chứa không thích hợp. Rinpoche giải thích rằng, “Có ba kiểu hành giả Pháp: đầu tiên, là những người bên ngoài trông như hành giả, nhưng bên trong thì không phải; thứ hai, những người nói rất cao siêu, nhưng không chứng ngộ gì hết; thứ ba, những người bên ngoài không giống hành giả, nhưng bên trong họ là những hành giả thực sự.”[31] Vì thế Rinpoche sẽ không trao truyền bất cứ giáo lý cao hơn nào cho những người nghiên cứu với ngài ít hơn sáu năm – khoảng thời gian đủ để chứng minh họ là những hành giả chân chính.

Người phương Tây đặc biệt bị nghi ngờ. Có quá nhiều người đến gặp Rinpoche, mong muốn các giáo lý tối thượng của Dzogchen mà không có đủ phẩm tính để thọ nhận hay hiểu chúng. Có một người đàn ông giàu có từ Mỹ, đã đặt một bọc tiền trước mặt Rinpoche, nói rằng nếu ngài ban cho ông ta giáo lý Dzogchen, số tiền đó sẽ thuộc về ngài. Rinpoche bảo ông ta mang tiền đi và từ chối ban giáo lý. Giáo lý linh thiêng chắc chắn không thể được mua bằng của hối lộ; người ta cần phải kiếm được quyền thọ nhận chúng.[32]

Trong truyền thống Longchen Nyingthig, khá phổ biến là các giáo lý cao hơn được trao truyền đến chỉ một hay hai trong số những đệ tử tận tụy và xuất sắc nhất của Đạo sư. Bậc thầy gốc của Khenpo Ngawang Palzang, Nyoshul Lungtok trao truyền một vài giáo lý và quán đảnh Longchen Nyingthig cho riêng vị Khenpo vĩ đại. Những kiểu giáo lý này được coi là bí mật và được duy trì bởi dòng trao truyền trực tiếp từ một bậc Đạo sư chứng ngộ đến một đệ tử có đầy đủ phẩm chất.

Có một người đủ điều kiện để thọ nhận các giáo lý thâm sâu của Chatral Rinpoche  – một hành giả phi thường tên là Yum Kusho-la, vị phối ngẫu của Tulku Urgyen Rinpoche. Đoạn sau đây là sự thuật lại việc trao truyền các giáo lý này, diễn ra vào những ngày cuối cùng của cuộc đời bà, được viết bởi con trai bà, Chokyi Nyima Rinpoche:[33]

Chatral Rinpoche … đến gặp bà. Bà có lòng sùng mộ vô cùng lớn lao với ngài. Bà thỉnh cầu ngài quán đảnh Kim Cương Tát Đỏa và yêu cầu rằng ngài dạy bà “Bốn phần không ba.”[34] Đây là tri kiến tối thượng của trekchod. Ngài đã dạy trong thời gian dài. Không may là, chúng tôi không thể thu âm lại những giáo lý này, nhưng ngài cũng không muốn nó được thu lại. Tuy nhiên, bài giảng rất dài và rõ ràng. Cuối cùng, Chatral Rinpoche nói rằng, “Ồ, hãy hòa tâm chúng ta. Hãy an trú trong bình thản.” Chúng ta đều biết– đặc biệt là các bác sĩ của bà – rằng bà rất yếu, nhưng lúc đó, bà nói “AH” rất to. Đôi mắt bà mở to. Không có dấu hiệu đau đớn gì; thay vào đó bà cảm thấy rất thư thái. Tôi nhìn vào đồng hồ. Bà duy trì trạng thái đó trong năm phút. Bỗng nhiên tôi lo lắng rằng bà có thể sắp chết. Tôi nghĩ, “Điều gì xảy ra vậy?” Tôi nhìn vào Chatral Rinpoche và ngài chỉ thiền định ở đó. Điều này làm tôi thư giãn và tôi hiểu chúng tôi đều nên duy trì trong rigpa.[35]

Năm phút sau, bà “quay trở lại.” Bà đã duy trì trong tri kiến của “bốn không không ba” không nói gì cả. Sau đó, bà bắt đầu nói và bà cảm ơn Chatral Rinpoche. Ngài nói, “Ta rất vui khi con hiểu giáo lý này. Ta biết con là một hành giả tốt, nhưng ta không nhận ra là con đã đạt đến cấp độ này của giác tánh. Hôm nay ta thấy điều đó, bởi vậy ta kính trọng con, và tự hào khi biết con. Con là một tấm gương tốt cho mọi người.”

Sau đó Chatral Rinpoche cùng cha và tôi đi ăn trưa ở phòng khác. Chúng tôi ăn và nói chuyện trong hơn một giờ. Cha tôi không hỏi nhiều, nhưng tôi hỏi Chatral Rinpoche, “Điều gì đã xảy ra? Mẹ con đã trải qua điều gì?” Ngài nhìn vào tôi rất nghiêm túc và nói rằng, “Tốt. Một điều tuyệt vời. Bà ấy đã hòa hư không và giác tánh. Chỉ hành giả xuất sắc mới có thể làm thế, đặc biệt là khi đối mặt với cơn đau dữ dội và bệnh tật như vậy. Đến hôm nay ta mới biết rằng Yum Kusho-la là một hành giả cao cấp đến vậy. Đây là tấm gương tốt cho tất cả chúng ta. Bây giờ hãy xem. Có những dấu hiệu kỳ lạ khác. Sẽ rất tốt nếu mọi người có kết nối với Yum Kusho-la có thể gặp bà, cúng dường một chiếc khăn khât, lễ lạy và thỉnh cầu để tâm họ hòa nhập với bà.”

Chatral Rinpoche không giành nhiều thời gian để thuyết giảng, bởi chỉ một vài người có đủ phẩm tính để thọ nhận các giáo lý như thế. Thay vào đó, ngài tham gia không ngừng vào các hoạt động đức hạnh, đi đến Calcutta trong chuyến du hành hàng năm, nơi ngài giải phóng bảy mươi xe tải cá trở về với Ấn Độ Dương, nơi mà đánh bắt cá bị cấm, cầu nguyện cho từng con từng con. Ngài nhận những sự đóng góp từ khắp nơi trên thế giới vì hành động từ bi vĩ đại này, điều cũng là chủ đề của một trong các bài giảng trong cuốn sách này. Ngài vô cùng quan tâm đến các hành giả chân chính, đi đến nhiều trung tâm nhập thất khác nhau để có thể kiểm tra sự tiến bộ của họ. Ngài cũng ban tặng những chỉ dẫn cho những người với niềm tin khác đến gặp ngài. Gần đây, khi một linh mục nhà thờ đến thỉnh cầu ngài giáo lý, Rinpoche nói rằng, “Hãy quyết định xem điều gì quan trọng nhất mà Chúa từng nói, và sau đó hiểu nó càng sâu càng tốt.” Điều này đã trở thành lời khuyên thâm sâu nhất mà linh mục từng nhận và nó làm sự hiểu và niềm tin của ông ta trở nên sâu sắc hơn.

Chatral Rinpoche mang nhiều hình tướng để giúp đỡ các đệ tử trong các giấc mơ và linh kiến. Năm 1997, bắt đầu khóa tu cuối tuần ở San Franciso, Lama Tharchin Rinpoche nói với các học trò rằng Chatral Rinpoche xuất hiện trong giấc mơ của ngài, bảo rằng Lama Tharchin và các đệ tử phải tích lũy một trăm triệu lần bài nguyện Bảy dòng của Guru Padmasambhava để tiêu trừ chướng ngại cho sức khỏe của Lama Tharchin, làm lợi lạc cho chúng sinh, và mang đến hòa bình cho thế giới trong thời đại suy đồi này.

Sau Lễ Năm Mới Tây Tạng năm 2000, hàng trăm Phật tử sùng đạo từ nhiều vùng của Himalaya đã tập trung ở trung tâm của Rinpoche ở Yangleshod, thỉnh cầu sự gia trì của ngài cho thiên niên kỷ mới. Họ cắm trại trong các lều bạt gần tu viện của ngài và kiên nhẫn chờ đợi trong nhiều ngày. Vào thời điểm tốt lành nhất, Rinpoche đã ban cho họ quán đảnh trường thọ. Sau quán đảnh, cả nhóm hát những bài ca tán thán các hoạt động vĩ đại và sự vinh quang của Đạo sư vô song của họ và nhảy múa vui vẻ.

Kiến thức rộng lớn của Rinpoche không chỉ giới hạn trong triết học Phật giáo. Ngài cũng là một chuyên gia về vẽ tranh thangka, âm nhạc nghi lễ, vũ điệu [Kim Cương thừa] và nhiều môn khác. Họa sĩ thangka, Lama Tsongdru Sangpo viết rằng:

Quan trọng nhất với tôi là chỉ dẫn cá nhân liên tục tôi thọ nhận từ Chatral Sangye Dorje Rinpoche, Đấng Bảo hộ tâm linh của tôi trong đời này và mọi đời tương lai. Ngài gia trì cho tôi nhiều lần với những lời khuyên vô cùng quan trọng nhưng hiếm khi được để ý về những điểm cốt yếu của vẽ thangka và cho tôi chỉ dẫn chi tiết về thiết kế và dáng điệu của từng Bổn tôn đặc biệt.

Chatral Rinpoche nổi tiếng vì sự kiên định khi làm những thứ một cách đúng đắn. Trong truyền thống Phật giáo Tây Tạng, khi ai đó chết, cần để họ ba ngày để có đủ thời gian cho thức rời khỏi thân và hy vọng đi đến một cõi Tịnh Độ hay chí ít là tái sinh tốt lành. Theo Sogyal Rinpoche, “Chatral Rinpoche bảo với những người đang than phiền rằng tử thi bốc mùi nếu nó được giữ trong thời tiết nóng [trong ba ngày]; “Nó không phải như thể bạn phải ăn nó, hay cố gắng bán nó.”[36]

Năm 2002, một tai nạn không may xảy ra ở một trong các trung tâm của Rinpoche ở Darjeeling. Một người đàn ông Mỹ, đã nghiên cứu Phật giáo Tây Tạng ở Ấn Độ, đến thăm Rinpoche. Trong buổi lễ cầu nguyện, ông ta xin Rinpoche cho gặp riêng để thảo luận “điều gì đó quan trọng.” Khi Rinpoche từ chối, ông ta nhảy lên và bắt đầu làm ngài khó thở. Ông ta bị những thị giả và đệ tử của Rinpoche ngăn lại và bảo rời đi. Nhưng vẫn tiếp tục hành xử như vậy, và khi họ cố gắng lôi ông ta ra khỏi cửa chính của trung tâm, ông ta nổi cơn thịnh nộ và chửi rủa. Cảnh sát đến mang ông ta đi, nhưng sự cố này đã làm tổn thương những người liên quan, và kết quả là, bây giờ rất khó để người phương Tây, chưa từng gặp Rinpoche có thể gặp ngài. Kẻ tấn công phải ở một thời gian trong bệnh viện tâm thần trước khi bị trục xuất khỏi Ấn Độ vì lại tấn công người khác ở Nam Ấn trong năm đó. Là một vị Bồ Tát vĩ đại, ngài và vị phối ngẫu, Sangyum Kusho Kamala, đã gọi điện cho người đàn ông khi hắn trở về Mỹ, vì lo lắng đến tình hình của ông ta.

Thậm chí trong những hoàn cảnh khó khăn nhất, lòng từ bi vĩ đại của Rinpoche vẫn không hề lay chuyển. Tác phẩm nổi tiếng Ba mươi bảy Pháp hành Bồ Tát Đạo của ngài Ngulchu Gyalsas Thgome Zangpo (thế kỷ mười bốn) đã liệt kê ba mươi bảy thực hành của một vị Bồ Tát như sau:

Mặc dù chúng ta bị đổ lỗi nhưng chưa từng làm hại ai trong đời, nếu ai đó vô minh đe dọa giết chúng ta bởi anh ta bị loạn trí bởi tâm dày vò, thì mong muốn anh ta không chịu khổ đau thêm nữa vì trạng thái này, nhận lấy về mình những kết quả của hành động của anh ta, là Pháp hành của một vị Bồ Tát.[37]

Chatral Rinpoche được thỉnh cầu rất nhiều lần bởi các đệ tử về việc viết một cuốn tự truyện về cuộc đời ngài. Để làm hài lòng thỉnh cầu đó, ngài viết những dòng thơ sau đây:

Lời hồi đáp trong Ba chủng tự

Một bản tự truyện chứa đựng giáo lý trực tiếp đánh vào điểm trọng yếu, được biết về một kẻ lừa đảo của thời đại này như tôi:

Nguyện cầu Đạo sư tâm linh và Tam Bảo nghĩ về con!

Tôi là một lão già, sắp bước sang tuổi 88. Rất nhiều người gần gũi hay xa cách với tôi đã thỉnh cầu tôi, “Xin hãy viết một tự truyện về cuộc đời ngài để giúp đỡ môn đồ.” Tôi nhận ra rằng đây là một chướng ngại cho giải thoát và tôi thấy không cần thiết phải viết nhiều lời như thế. Bởi không ai biết rõ hơn tôi về chủ đề này, tôi sẽ như nhân chứng của mình và đáp lại với Lời hồi đáp trong Ba chủng tử:[38]

Ba phẩm tính của giới, định[39] và tuệ

Không vấy bẩn và được chứng minh qua nhận thức trực tiếp

Như rêu khô, thoát khỏi sự ẩm ướt của trạng thái sai lầm kiêu căng

Tôi héo mòn trong hư không của ngọn lửa bùng cháy

Với chủng tự RAM chói ngời.

Một vẻ bề ngoài tôn giáo, mớ hỗn độn của chủ nghĩa vật chất và Pháp,

Tôi biết rằng không phải là người bạn của thực hành hữu hiệu.

Bởi vậy tôi ném đi trô bụi của tự phụ và vô cảm

Vào cơn gió từ đỉnh núi, như là chủng tự YAM.

Tiền bạc được trao tặng vì người sống và kẻ chết, một chướng cản cho giải thoát

Và các kế hoạch tích lũy, thu lượm và đầu tư chúng để tạo dựng các đối tượng linh thiêng

Tôi quyết tâm dọn sạch với dòng suối trong vắt của từ bỏ, buông bỏ và ghê tởm

Với chủng tử cơ bản KHAM.[40]

Huyền thoại của Chatral Rinpoche sẽ còn sống mãi trong nhiều thế hệ. Năm 2003, ngài được tôn vinh là một trong các nhân vật ảnh hưởng nhất ở Nepal trong một buổi lễ ở Kathmandu. Bởi Rinpoche đã hoàn toàn chứng ngộ, ngài không lo lắng rằng việc quan tâm và tán thán của sự kiện này sẽ ảnh hưởng đến thực hành của ngài lúc này và tham gia buổi lễ cùng với rất nhiều học trò và bạn bè. Cho thấy rằng ngài vẫn là một yogi tự do từ trong tâm, ngài đội mũ truyền thống của Nepal trong suốt buổi lễ – lần đầu tiên với một Đạo sư Phật giáo Tây Tạng!

Mặc cho sự tán tụng của hàng nghìn người Himalaya, Rinpoche vẫn khiêm nhường như trước. Ngài từng nói rằng:

Tôi chỉ là một chúng sinh bình thường và không có gì đặc biệt về tôi. Tôi chỉ làm theo những lời dạy của Đức Phật. Không lừa dối gì về phần của tôi, tôi đứng vững trên nền tảng của việc thực hành Pháp và giúp đỡ mọi hữu tình chúng sinh. Tôi cầu mong rằng mọi hữu tình có thể buông bỏ hành động tự lừa dối mình và tự phóng đại bản thân, để họ có thể thực sự thực hành Pháp để giải thoát bản thân khỏi luân hồi và giúp đỡ chúng sinh khác. Nếu không, sẽ quá muộn khi họ cảm thấy ăn năn![41]

Bài cầu nguyện trường thọ cho ngài Chatral Rinpoche

OM SVASTI

Với lòng từ bi và sức mạnh của những khẩn nguyện của Đạo sư xứ Uddiyana và đoàn tùy tùng,

Ngài tái sinh hoàn hảo là Sangye Dorje, vị anh hùng tâm linh;

Nguyện cầu gót sen ngài vững bền trong hàng trăm kiếp.

Nguyện cầu việc điều phục chúng sinh và hoạt động giác ngộ của ngài ngày càng phát triển và đạt đến mục tiêu tối thượng!

Chatral Rinpoche biên soạn theo lời thỉnh cầu của Wangchen Palmo.

 Đặc biệt, nguyện cầu ngài, sự hiển bày vi diệu về tâm của Đức Liên Hoa Sinh,

Chiến thắng trong trận chiến với quan kiến sai lầm của thời đại đen tối,

Và tăng trưởng thêm nữa sự tiếp cận với Pháp để hoàn thành các mục tiêu của chúng ta.

Nguyện cầu cuộc đời ngài kéo dài một trăm năm,

Chói ngời với sự đức hạnh, thành tựu tự nhiên hai lợi ích,

Để âm thanh của giáo lý bí mật tràn khắp ba cõi!

Dudjom Rinpoche biên soạn, Erik Pema Kunsang dịch sang tiếng Anh.

Nguồn:   http://nyingmapavietnam.com/Chatral%20Rinpoche.html

[1] Kyabje nghĩa là “Đấng Quy y” và là danh hiệu được tặng cho các nhân vật rất được kính trọng trong Phật giáo Tây Tạng.

[2] Chatral Rinpoche sinh ngày 10 tháng 5 Tạng lịch, năm Con Bò Nước, 1913. Ngày này thường rơi vào tháng Sáu. Ngày sinh của ngài rơi vào ngài mà Guru Padmasambhava thị hiện hình tướng Guru Dorje Drolo, hóa thân phẫn nộ ở Bhutan để điều phục các thần và đấng bảo hộ địa phương và biến họ thành Hộ Pháp cho những giáo lý terma.

[3] Dudjom Rinpoche, Sự giảng giải trực tiếp và đơn giản Pháp thực hành nhập thất trên núi trong sự trần trụi tự nhiên của nó.

[4] Terma nghĩa là “kho tàng” và liên quan đến hàng trăm giáo lý được cất giấu bởi Guru Padmasambhava trên khắp Tây Tạng để được phát lộ bởi “khai tạng mật” hay terton.

[5] Khenpo Ngawang Palzang, người thường được nhắc đến là Khenpo Ngakchung, được so sánh với nhân vật trung tâm của truyền thống Longchen Nyingthig – ngài Longchen Rabjam – trong kiến thức rộng lớn và sự chứng ngộ thâm sâu. Trên thực tế, ngài có rất nhiều linh kiến về Longchen Rabjam, trong đó ngài thọ nhận các quán đảnh và giáo lý. Ngài thi triển nhiều thần thông khi còn bé, bao gồm việc đảo chiều một dòng sông với cái que được coi như là dao găm nghi lễ để ngăn chặn lũ lụt. Những dấu hiệu này khiến ngài được nhận ra là hóa thân của Vimalamitra. Khenpo Ngakchung trở thành tâm tử của Lungtok Tenpai Nyima khi còn nhỏ và nhận trọn vẹn trao truyền Longchen Nyingthig từ ngài. Ngài đã nghiên cứu mở rộng ở tu viện Dzogchen và tham gia vào nhiều khóa nhập thất để nắm vững giáo lý. Ngài viết rất nhiều bản văn nổi tiếng về trekchod và togyal và giữ chức tu viện trưởng tu viện Kathok trong nhiều năm.

[6] Lungtok Tenpai Nyima cũng được biết đến là Nyoshul Lungtok.

[7] Dzogchen nghĩa là “Đại toàn thiện” và liên quan đến giáo lý cao nhất của truyền thống Nyingma.

[8] Truyền thống Longchen Nyingthig là truyền thừa cơ bản cho thực hành Dzogchen của “truyền thống Cựu Dịch” của Phật giáo Tây Tạng, hay dòng Nyingma [Cổ Mật]. Longchen Nyingthig nghĩa là “Tâm yếu Đại Quảng trí.”

[9] Ngondro nghĩa là “thực hành dự bị”. Xem cuốn Lời vàng của thầy tôi của Patrul Rinpoche để biết thêm chi tiết về thực hành ngondro Longchen Nyingthig.

[10] Trekchod nghĩa là “cắt qua đến thanh tịnh nguyên sơ.”

[11] Togyal nghĩa là “vượt qua đến hiện hữu tự nhiên.”

[12] Khyentse Chokyi Lodro là bậc Đạo sư xuất sắc, bậc nắm giữ gần như mọi truyền thống và truyền thừa của Phật giáo Tây Tạng. Ngài là nhân vật trọng yếu của rimay, phong trào bất bộ phái ở Tây Tạng.

[13] Yeshe Thaye và Pem Lhadren, “Cuộc đời của Đấng Quy y,” Ánh sáng Liên Hoa, tập 3, tháng Sáu 2011.

[14] Carroll Dunham và Ian Baker, Tây Tạng, Hình bóng từ Bánh xe Cuộc đời.

[15] Thaye và Lhadren, “Cuộc đời của Đấng Quy y.”

[16] Một phần của giới nguyện Bồ Tát là giúp đỡ chúng sinh trong rất nhiều đời tương lai để giải thoát họ khỏi khổ đau. Được gọi là tulku, “hóa thân,” những bậc vĩ đại này – bao gồm của Đạt Lai Lạt Ma – được gọi là “Rinpoche” hay “Đấng Cao quý.”

[17] Dakini [Không hành nữ] là bậc nữ cao quý, người, trong số những chúng sinh khác, giúp đỡ Guru Padmasambhava với việc tìm ra và truyền bá các giáo lý terma.

[18] Thaye và Lhadren, “Cuộc đời của Đấng Quy y.”

[19] Tên của terma của ngài Chogyur Lingpa được trao truyền.

[20] Erik Pema Kunsang và Marcia Binder Schmidt, Blazing Splendor: The Memoirs of Tulku Urgyen Rinpoche, trang 304 – 305.

[21] Guru Padmasambhava được biết đến là “Vị Phật thứ hai,” bởi Đức Phật Thích Ca Mâu Ni từng nói với các đệ tử rằng ngài sẽ thị hiện trong tám năm nữa và giảng dạy Mật điển – các thực hành cao cấp của Phật giáo, nhờ đó người ta có thể giác ngộ chỉ trong một đời. Guru Padmasambhava được cho là sinh ra từ bông sen trong hình dạng một bé trai tám tuổi ở vùng Uddhiyana (được tin là ở thung lũng Swat ngày nay), như đã dự đoán. Ngài có tám hóa thân chính, ở đó ngài nghiên cứu và thực hành Mật điển. Ngài được thỉnh mời bởi Vua Trisong Deutsen (790 – 844) để điều phục các thế lực ngăn cản việc đưa Phật giáo vào Tây Tạng, bởi vậy ngài đến Tây Tạng và chế ngự các ma quỷ và tinh linh phẫn nộ, những kẻ sau này trở thành Hộ Pháp của Phật giáo. Với sự giúp đỡ của Đạo sư Khenpo Shantarakshita, ngài thành lập tu viện Samye, tu viện Phật giáo đầu tiên của đất nước, và thành công trong việc đưa Phật giáo đến Tây Tạng.

[22] Truyền thống Nyingma là cổ nhất trong bốn truyền thống chính của Phật giáo Tây Tạng; ba truyền thống kia là Sakya, Kagyu và Geluk. Trong dòng Nyingma có các bậc Đạo sư xuất sắc như Kyabje Dilgo Khyentse Rinpoche, Kyabje Nyoshul Khen Rinpoche và Kyabje Dudjom Rinpoche.

[23] Yonru Chimey Dorje tiên đoán trước khi Chatral Rinpoche chào đời rằng,

“Hóa thân tối thượng về tâm của Guru Padmasambhava

Đứa bé được gia trì bởi Vimalamitra

Sinh ra vào năm Bò Nước với tên gọi Vajra

Sẽ hoằng dương truyền thừa thực hành”

(trích từ “Cuộc đời Đấng Quy y” của Thaye và Lhadren). Ngài Vimalamitra là một trong những nhân vật vĩ đại của truyền thống Nyingma cùng thời đại với Guru Padmasambhava và Khenpo Ngawang Palzang được xem là hóa thân của ngài.

[24] Ngày 10 tháng 3 năm 1959, hàng nghìn người Tạng ở Lhasa – lo lắng về sự an toàn của Đạt Lai Lạt Ma – nổi dậy rộng lớn trong ba ngày và nhiều người đã chết. Trung Quốc đã đàn áp dã man cuộc nổi dậy và sau đó Đạt Lai Lạt Ma chạy đến Ấn Độ. Kể từ đó, hàng trăm nghìn người Tạng đã sống lưu vong ở Nepal, Bhutan, Ấn Độ, châu Âu và Mỹ.

[25] Guru Padmasambhava tiên đoán rằng, “Khi con chim sắt bay và ngựa chạy trên bánh xe, người Tạng sẽ rải rác khắp nơi trên trái đất và Pháp sẽ đến với vùng đất của người mặt đỏ.”

[26] Thaye và Lhadren, “Cuộc đời của Đấng Quy y.”

[27] Từ cuộc phỏng vấn Chatral Rinpoche năm 2000, được xuất bản trong “Bất bạo động trong Văn hóa Tây Tạng,” Một chương trình đi thực địa ở Nepal cho sinh viên Đại học Wisconsin-Madison.

[28] Sangyum nghĩa là vị phối ngẫu. Không giống như các vị tăng, các vị yogi thường có phối ngẫu trong các giai đoạn sau của cuộc đời. Các vị yogi vĩ đại khác như là Dilgo Khyentse Rinpoche và Nyoshul Khen Rinpoche có phối ngẫu như vậy.

[29] Pháp thân [Dharmakaya] liên quan đến trạng thái nguyên sơ của giác tánh hoàn hảo.

[30] Một Bảo tháp là đài tưởng niệm Phật giáo với đế vuông, ở giữa có hình hoa sen và đỉnh hình nón, chứa những bản văn và xá lợi linh thiêng. Phật tử thường chiêm bái đến một Bảo tháp bằng cách đi nhiễu quanh nó theo chiều kim đồng hồ và tụng các lời cầu nguyện. Bảo tháp Boudhanath ở thung lũng Kathmandu, có lẽ là lớn nhất và nổi tiếng nhất trên thế giới, là trung tâm lớn cho cộng đồng Tây Tạng ở Nepal.

[31] Thaye và Lhadren, “Cuộc đời của Đấng Quy y.”

[32] Có rất nhiều các câu chuyện về việc Chatral Rinpoche thử thách các đệ tử phương Tây khi họ thỉnh cầu giáo lý để xem liệu rằng lòng sùng mộ của họ có đủ. Một người đàn ông được bảo nếu anh ta nhặt con rắn độc trên cỏ lên, anh ta có thể trở thành đệ tử của Rinpoche. Khi nghe vậy, anh ta nhặt con rắn lên và sau đó được phép học tập ở một trong các trung tâm của Rinpoche. Những thử thách khó khăn như vậy là phổ biến, để quyết định xem mức độ sùng mộ với Đạo sư có đủ để đệ tử nhận được lợi lạc từ giáo lý. Đạo sư của ngài Milarepa, Đức Marpa đã đặt ngài vào những thử thách nghiêm ngặt tương tự vậy.

[33] Chokyi Nyima Rinpoche là một lạt ma của cả hai truyền thống Kagyu và Nyingma của Phật giáo Tây Tạng. Ngài có rất nhiều đệ tử phương Tây nghiên cứu ở trung tâm của ngài Boudha, Nepal, được gọi là “Tu viện trắng.”

[34] Điều này liên quan đến sự chứng ngộ bốn thân mà không có điểm tham chiếu của ba thời.

[35] Trạng thái của giác tánh nguyên sơ vượt khỏi các quan niệm nhị nguyên.

[36] Sogyal Rinpoche, Tạng thư sống chết.

[37] Trích từ Ba mươi bảy Pháp hành Bồ Tát Đạo.

[38] Thaye và Lhadren, “Cuộc đời của Đấng Quy y.”

[39] Một cấp độ cao của thiền định trong đó bản tánh bất nhị của tâm được trải nghiệm.

[40] Khenpo Tendzin Ozer, “Hạt giống niềm tin: Tiểu sử của Đấng Quy y, Chatral Sangye Dorje,” được dịch bởi Erik Pema Kunsang. Trong đoạn trích này, từ “JVALA” được thay đổi thành “với chủng tự chói ngời”; từ “chữ cái YAM” được chuyển thành “chủng tự YAM”; từ “yếu tố KHAM” được chuyển thành “chủng tự cơ bản KHAM.”

[41] Thaye và Lhadren, “Cuộc đời của Đấng Quy y.”